- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Thị H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2022/HS-ST Ngày 21/12/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tấn, ông Lý Văn Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Chung Duy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXXST-HS ngày 07/12/2022 đối với bị cáo:
Lƣơng Thị H, sinh ngày: 21/6/1990, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn Gia K, xã Hòa P, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; bố đẻ: Lương Thái C; mẹ đẻ: Lê Thị H; chồng: Hoàng Xuân H, sinh năm 1987 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2015;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Bị hại: Doanh nghiệp tư nhân N; địa chỉ: Thôn Hòa Đ, xã Phúc T, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang. Chủ doanh nghiệp: Ông Lý Văn V, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn Khuôn H, xã Hòa P, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 01 11 2020, Lương Thị H làm kế toán hợp đồng cho Doanh nghiệp tư nhân N (chủ Doanh nghiệp là ông Lý Văn V sinh năm 1965). Ngày 16/12/2021 do thiếu tiền mua xe ô tô tải cho Doanh nghiệp nên ông V tin tưởng giao nhiệm vụ cho H đến Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Chiêm Hóa Tuyên Quang làm thủ tục chuyển số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) từ số tài khoản 81042111713 của Doanh nghiệp tư nhân N đến số tài khoản 8104205245547 của anh Lý Văn N (con trai của ông V), ông V đưa cho H 01 (Một) tờ giấy ủy nhiệm chi của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Chiêm Hóa Tuyên Quang có chữ ký của ông Vvà đóng dấu Doanh nghiệp tư nhân N, trên đường đi H nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) của Doanh nghiệp. Khi đến Ngân hàng H không làm theo yêu cầu của ông V mà làm thủ tục để chuyển số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) từ số tài khoản 81042111713 của Doanh nghiệp tư nhân N vào số tài khoản 8104205210746 của H, sau khi chiếm đoạt được số tiền nêu trên H đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Ngày 31/12/2021 ông V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa trình báo sự việc và đề nghị giải quyết.
Bản cáo trạng số 95/CT-VKSCH ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố bị cáo Lương Thị H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lương Thị H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Lương Thị H từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong cho Doanh nghiệp tư nhân N (chủ Doanh nghiệp là ông Lý Văn V) số tiền 20.000.000 đồng.
- Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 2016 UBTVQH ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì, nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp của bị hại xác định bị cáo đã bồi thường xong cho Doanh nghiệp tư nhân N số tiền 20.000.000 đồng và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thị H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, của bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong ngày 16 12 2021, tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Chiêm Hóa Tuyên Quang, bị cáo Lương Thị H đã có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) của Doanh nghiệp tư nhân N (chủ Doanh nghiệp là ông Lý Văn V) để chi tiêu cá nhân.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, sau khi được Doanh nghiệp tư nhân N tin tưởng giao nhiệm vụ đến Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Chiêm Hóa Tuyên Quang làm thủ tục chuyển số tiền cho anh Lý Văn N để mua xe ô tô, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đã làm thủ tục chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản của bị cáo để chi tiêu cá nhân, hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố bị cáo về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra trước lần thực hiện hành vi phạm tội này, trong tháng 11 2021 bị cáo còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 3 Điều 174 BLHS và bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội này, sau đó tách ra chuyển cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trước phiên tòa, bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại Doanh nghiệp tư nhân N (do ông Lý Văn V là chủ Doanh nghiệp đại diện) số tiền 20.000.000 đồng, ông V không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Nên ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong cho Doanh nghiệp tư nhân N số tiền 20.000.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định Lương Thị H có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 174 BLHS, do có bị hại là người nước ngoài nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã tách vụ án hình sự và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang để điều tra giải quyết theo thẩm quyền, do vậy không đề cập xử lý trong vụ án này.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Thị H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Thị H 01 (Một) năm tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận ngày 21 12 2022 bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại Doanh nghiệp tư nhân N (do ông Lý Văn V là chủ Doanh nghiệp đại diện) số tiền là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
4. Về án phí: Bị cáo Lương Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang ; - VKSND huyện Chiêm Hóa ; - Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; - Công an huyện Chiêm Hóa; - CCTHADS huyện Chiêm Hóa; - Sở Tư pháp Tuyên Quang; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Người tham gia tố tụng; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Văn Tấn Lý Văn Tòng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Mạnh Tuấn THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Mạnh Tuấn |