vanban.org

Bản án 94/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Bùi Văn T và bà Lâm Thị P.

Việc nuôi con: Giao cháu Bùi Minh T, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2009 cho ông Bùi Văn T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA: T_P"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Bùi Văn T và bà Lâm Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ G
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2022/HNGĐ-ST
Ngày 09 - 09 – 2022
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G – TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Nhạn

2. Ông Sơn Hoài Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đèo –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 09 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2022/TLST–HNGĐ, ngày 19 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Bùi Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Khóm 3, phường Láng T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

- Bị đơn: bà Lâm Thị P, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Khóm 3, phường Láng T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 01 tháng 7 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn trình bày:

+ Quan hệ hôn nhân: ông và bà P sống chung với nhau năm 1997, có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2003. Hai người đã ly thân từ năm 2018, với lý do: vợ chồng sống chung phát sinh mâu thuẫn và cự cải, bà P làm nợ nhiều lần nên tự bỏ đi và không còn sống chung cho đến nay. Nay ông T yêu cầu ly hôn với bà P.

+ Việc nuôi con: ông và bà P có 02 người con chung:

1. Bùi Minh Đ, sinh năm 1998, hiện đã thành niên và có cuộc sống riêng nên ông không yêu cầu giải quyết

2. Bùi Minh T, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2009. Hiện đang sống chung với ông, ông yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.

+ Chia tài sản: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn bà Lâm Thị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không thể tiến hành lấy lời khai được.

- Kiểm sát viên phát biểu:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không có mặt theo giấy triệu của Tòa án, vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải là không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Văn T xin ly hôn với bà Lâm Thị P.

+ Về quan hệ con: Đối với Bùi Minh Đ đã thành niên nên không đặt ra xem xét; giao con chung Bùi Minh T cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng và tạm miễn việc cấp dưỡng.

+ Chia tài sản: không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên việc xét xử vắng mặt của họ là phù hợp với quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan hệ hôn nhân: do bà P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không thể tiến hành lấy lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của ông T để giải quyết theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà P là hôn nhân hợp pháp. Thông qua lời khai của ông T đã chứng minh được ông và bà P ly thân từ năm 2018 cho đến nay, với những lý do mà ông T đưa ra. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa họ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đây là căn cứ ly hôn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu của ông Bùi Văn T được ly hôn với bà Lâm Thị P.

Việc nuôi con:

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

- Cháu T đang sống với ông T từ khi ly thân cho đến nay và đang phát triển bình thường, cháu có nguyện vọng tiếp tục sống chung với ông T nên việc giao cho ông T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con do mình không trực tiếp nuôi, mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về cấp dưỡng: ông Bùi Văn T không yêu cầu (mặc dù đã được giải thích) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với Bùi Minh Đ đã thành niên và ông T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Chia tài sản: ông Bùi Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí:

- Ông Bùi Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ, khấu trừ số tiền đã dự nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0004174 ngày 19 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G.

- Bà Lâm Thị P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 147, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Bùi Văn T và bà Lâm Thị P.

2. Việc nuôi con:

- Giao cháu Bùi Minh T, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2009 cho ông Bùi Văn T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con do mình không trực tiếp nuôi, mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về cấp dưỡng: ông Bùi Văn T không yêu cầu (mặc dù đã được giải thích) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Chia tài sản: ông Bùi Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

- Ông Bùi Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ, khấu trừ số tiền đã dự nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0004174 ngày 19 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G.

- Bà Lâm Thị P không phải chịu án phí.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ