- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hồng H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14-9-2022 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Nam và bà Lê Thị Đông Nguyệt.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên tham G phiên tòa: bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 284/2022/TLST-HNGĐ ngày 05/7/2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/8/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 71/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng H, sinh năm 1988; Địa chỉ: khu phố .., phường P, Tp T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố .., phường P, Tp T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/6/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Hồng H trình bày được tóm tắt như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 17/8/2012. Quá trình chung sống, cuộc sống chung hạnh phúc được một thời Gn, đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Đ thường xuyên uống rượu, đánh đập chị nên dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Mâu thuẫn vợ chồng không được G đình hai bên cũng như chính quyền hòa giải. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên chị H xin được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Trong thời Gn chung sống, vợ chồng có 03 con chung tên là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 23/3/2007; Nguyễn Hoàng G, sinh ngày 18/4/2009; Nguyễn Hồng N, sinh ngày 05/4/2011. Hiện nay 03 cháu đang sống với chị H. Ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu anh Đ pH cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh Đ; Về con chung: Go 03 con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh Đ không pH cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét; Về án phí: Đương sự pH chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 17/8/2012 nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời Gn, theo nguyên đơn chị H trình bày: năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Đ thường xuyên uống rượu, đánh đập chị nên dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ cho anh Đ để lấy lời khai và hòa giải nhưng anh Đ không đến Tòa cũng như tại phiên tòa hôm nay anh Đ vẫn không có mặt. Như vậy cho thấy anh Đ không có thiện chí hòa giải khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh Đ.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị H và anh Đ có 03 con chung tên là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 23/3/2007; Nguyễn Hoàng G, sinh ngày 18/4/2009; Nguyễn Hồng N, sinh ngày 05/4/2011. Hội đồng xét xử thấy rằng: hiện nay 03 con chung đang sống với chị H, vẫn đảm bảo cuộc sống về thể chất và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của các con. Ngoài ra cháu T, cháu G và cháu N cũng có nguyện vọng xin được sống với mẹ. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống của các con nên cần tiếp tục giao 03 con chung cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những căn cứ nêu trên nên chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về án phí: Nguyên đơn chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hồng H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
2. Về con chung: Go 03 (ba) con chung tên là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 23/3/2007; Nguyễn Hoàng G, sinh ngày 18/4/2009; Nguyễn Hồng N, sinh ngày 05/4/2011 cho chị Nguyễn Hồng H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục;
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Hồng H không yêu cầu anh Nguyễn Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp cần thiết có thể yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng.
3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Hồng H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà chị H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005427 ngày 05/72022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND Tp.T; - Chi cục THADS Tp T; - UBND phường P, Tp T; (Số 72, ngày 17/8/2012) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Tân Sang |