vanban.org

Bản án 94/2021/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Tuyên bố bị cáo Đỗ Cao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2 Xử phạt: Đỗ Cao T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2020. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những trường hợp vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TANG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Đỗ Cao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 94/2021/HS-ST
Ngày: 23/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Quý

2. Bà Phan Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Phương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 192/2021/TLST- HS ngày 16 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2021/QĐXXST-HS ngày 04/3/2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Cao T, sinh năm: 1998 tại Thành phố H; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Hộ khẩu thường trú: Huỳnh Tấn Phát, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Đỗ Cao T và bà Nguyễn Ngọc Tn; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, giam, giữ từ ngày 29/9/2020, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Cù Thị Ngọc T, sinh năm 1990

Địa chỉ: chung cư Thạnh Mỹ Lợi, phường T, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Nguyễn Ngọc Tn, sinh năm 1971

Địa chỉ: Huỳnh Tấn Phát, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Bà Từ Thị Hồng N

Địa chỉ: Nguyễn Tri Phương, phường 4, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 29/9/2020, do cần mua ma túy để sử dụng và được bạn bè giới thiệu từ trước nên Đỗ Cao T một mình điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dylan, màu đỏ, biển số 52U4-0330 đi từ khu vực Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đi đến chân cầu Tân Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) và mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau đó, Triết cất gói ma túy vừa mua vào túi quần trước bên trái rồi điều khiển xe về Quận 2. Do trước đó, Cù Thị Ngọc T gọi điện nhờ T chở qua Quận 9 gặp người thân nên T đến khu vực phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2 đón T và chở qua Quận 9. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi T đang điều khiển xe mô tô trên chở T đến cầu Xây Dựng, đường Nguyễn Duy Trinh, khu phố 2, phường Phú Hữu, Quận 9 thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy- Công an Quận 9 tuần tra thấy có dấu hiệu nghi vấn và kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện Triết đang cất giấu trong túi quần trước bên trái 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể không màu nên đưa T về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Quận 9, Đỗ Cao T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên..

Tang vật thu giữ:

- 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể không màu. Theo T khai nhận là ma túy đá (ma túy tổng hợp), đã được niêm phong có chữ ký ghi tên Đỗ Cao T và hình dấu của Cơ quan Điều tra – Công an Quận 9.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Dylan, màu đỏ, Biển số 52U4-0330.

Căn cứ Kết luận giám định số 1673/KLGĐ-H ngày 06/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: tinh thể không màu trong 01 gói nilon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đỗ Cao T và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 9 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9885 gram, loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau khi giám định là 0,7968 gram. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 9 đã tiến hành nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 121/20 ngày 22/10/2020.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Dylan, màu đỏ, Biển số 52U4-0330. Qua xác minh, xác định xe mô tô trên có nguồn gốc do chị Từ Thị Hồng N đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, chị Nguyễn Ngọc Tn (mẹ ruột của Đỗ Cao T) cung cấp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Giấy đăng ký xe số 140128 do Phòng Cảnh sát giao thông- Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/11/2007 thể hiện xe mô tô trên do chị Tn là chủ sở hữu. Sau khi xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông- Công an Quận 9, xác định xe mô tô do chị Tn đứng tên chủ sở hữu là đúng. Qua làm việc với chị Tn, được biết: khoảng 9 giờ 00 phút ngày 24/9/2020, T đang ở nhà thì hỏi mượn chị Tn xe mô tô trên để đi chơi với bạn. Chị Tn đồng ý giao xe cho T và không hỏi gì thêm. Chị Tn không biết việc Triết sử dụng xe trên đi mua ma túy và tìm nơi sử dụng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Quận 9 đã trả lại xe máy nêu trên cho chị Nguyễn Ngọc Tn.

[2] Bản Cáo trạng số 175/CT-VKS ngày 15/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Đỗ Cao T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đỗ Cao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Đỗ Cao T mức án từ 01(một) năm đến 01(một) năm 06(sáu) tháng; vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, không bào chữa gì, bị cáo nói lời sau cùng xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi tự đi tìm mua và cất giữ một lượng ma túy trong người với mục đích để sử dụng, khối lượng cất giữ lúc bị bắt là 0,9885 gram, loại Methamphetamine. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Đỗ Cao T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do tính chất đặc biệt của ma túy có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, mọi hành vi trái pháp luật liên quan đến ma túy đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc. Bị cáo đã thực hiện hành vi cất giữ, tàng trữ một lượng ma túy nhất định để sử dụng, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Bị cáo tự tìm mua và cất giữ ma túy trong người thể hiện hành vi cố ý phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và phải bị xử phạt với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau khi giám định hiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 9 đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 121/20 ngày 22/10/2020.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Dylan, màu đỏ, Biển số 52U4-0330. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Đức đã trả cho bà Nguyễn Ngọc Tn là có cơ sở.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017):

1.1 Tuyên bố bị cáo Đỗ Cao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1.2 Xử phạt: Đỗ Cao T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2020.

2. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 gói được niêm phong sau khi giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Đỗ Cao T, giám định viên theo Lệnh nhập kho vật chứng số 121/20 ngày 22/10/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những trường hợp vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ