- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N T L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2021/HS-ST Ngày: 11/11/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lại Thị Thúy Hằng.
2. Bà Trương Thị Thanh Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 11 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
N T L, sinh năm 1987, tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp L, xã X, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông N T, sinh năm: 1963 và bà N N, sinh năm: 1963; Chồng: Phạm Đức Trưởng (đã ly hôn) và 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi cư trú từ ngày 06/8/2021 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông L D, sinh năm: 1992 (Vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 08 giờ ngày 29/7/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy, N T L dụng điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh liên lạc qua mạng xã hội zalo với một người tên Tý (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng, sau đó Lụa dùng điện thoại định vị vị trí để Tý giao ma túy. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Lụa nhận được cuộc gọi qua mạng xã hội Zalo của Tý báo ra vị trí cách nhà của Lụa khoảng 50m tại ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai để lấy ma túy. Khi ra đến nơi, Lụa gặp một nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ, không rõ biển số đưa cho Lụa 01 bịch nilon màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy đá, Lụa nhận ma túy và đưa cho nam thanh niên số tiền 1.000.000 đồng rồi đem ma túy mua được vào nhà, lấy cân tiểu ly ra để cân trọng lượng thì bị Công an xã Xuân Mỹ phát hiện bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 1616/KLGĐ-PC09 ngày 03/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,4721 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 94/CT-VKSCM ngày 15/10/2021 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đối với người đàn ông tên Tý là ngườ i đa bán ma túy và nam thanh niên giaõ ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau theo quy định của pháp luâ ̣t.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong có dấu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 1616/KLGĐ-PC09 ngày 03/8/2021.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết lỗi, xin hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo về lo cho các con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo N T L khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 7 năm 2021, tại ấp Láng Lớn, xã Xuân Mỹ, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, N T L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 1,4721 gam, loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo N T L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp, cướp giật tài sản, giết người..., làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử bị cáo một mức án đúng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung và cho bị cáo một thời gian cần thiết để cai nghiện ma túy. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 1616/KLGĐ-PC09 ngày 03/8/2021 bên trong có ma túy loại Methamphetamine.
Tịch thu tiêu hủy 01 cân tiểu ly, màu đen trắng không rõ nhãn hiệu không còn giá trị sử dụng.
[5] Đối với người đàn ông tên Tý là ngườ i đa bán ma túy và nam thanh niêñ giao ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo N T L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo N T L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 1616/KLGĐ-PC09 ngày 03/8/2021, bên trong có ma túy loại Methamphetamine.
Tịch thu tiêu hủy 01 cân tiểu ly, màu đen trắng không rõ nhãn hiệu.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ. Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Cẩm Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ ngày 15/10/2021)
3. Án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - THADS huyện Cẩm Mỹ; - Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Cẩm Mỹ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên hội đồng xét xử Lê Đức Dũng- Vũ Xuân Vương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Nguyễn Hoài Bảo HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Hoài Bảo |