- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Minh Nh - Nguyễn Thị T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thanh Thị T phạm tội: “Giao cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2021/HS-ST Ngày: 30/ 9/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Văn Việt
Bà Trần Thị Nguyệt Bình
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa - Cán bộ Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa:Ông Huỳnh Thanh Phƣớc - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 99/2021/QĐXXST-HS ngày 16/ 9/2021 đối với các bị cáo:
1. Thanh Thị T, Sinh ngày 20/12/2002
Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Chăm; Giới T: Nữ; Tôn giáo: Bà ni; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thanh H, sinh năm 1967 và bà Dụng Thị G, sinh năm 1971; Đều trú tại: Thôn M, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cƣ trú theo Lệnh số 41/2021/HSST-LCCT ngày 17/ 9/2021 của Tòa án nhân dân huyện B, hiện đang tại ngoại ở thôn M, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
2. Nguyễn Thị Minh Nh, Sinh ngày 12/10/2002
Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Th, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới T: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1976 và bà Đặng Thị L, sinh năm 1975; Đều trú tại: Thôn Th, xã Phan Rí Thành, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cƣ trú theo Lệnh số 42/2021/HSST-LCCT ngày 17/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện B, hiện đang tại ngoại ở thôn Th, xã Phan Rí Thành, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Nguyễn Thị Mỹ Liên (Đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Võ Tấn Sang, sinh năm 1980 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Bình Nghĩa, xã Bình Tân, huyện B,tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 02/12/2020, Thanh Thị T, sinh ngày 20/12/2002 ở thôn M, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận thấy nhà không có ai nên tự ý lấy xe mô tô biển số 86B2 – 223.60 ( của ông Thanh Hà, sinh năm: 1976, trú thôn M, xã H, huyện B là cha ruột của T đứng tên chủ sở hữu, có dung tích xy lanh 110cm3) điều khiển chạy từ nhà của T đi đến nhà Nguyễn Thị Minh Nh (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định), sinh ngày 12/10/2002 ở thôn Th, xã Phan Rí Thành, huyện B, tỉnh Bình Thuận để chở Nh đi vào thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận để học (Đại học Phan Thiết). T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-223.60 chở Nh ngồi phía sau xe chạy trên đƣờng Quốc lộ 1A hƣớng Phan Rang đi Phan Thiết. Khi T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-223.60 chạy đến nhà hàng tiệc cƣới Tâm Thành thuộc thôn Thái Thành, xã Hồng Thái, huyện B. Do có ba lô đồ cồng kềnh để ở ba ga phía trƣớc nên T thấy khó điều khiển xe mô tô biển số 86B2-223.60, T nói với Nh là “mày chở tao nha, tao thấy không ổn” thì Nh nói “ừ để tao chở cho”. T giao xe mô tô biển số 86B2-223.60 cho Nh điều khiển chở T ngồi phía sau xe tiếp tục đi vào thành phố Phan Thiết. Khi T giao xe cho Nh thì T biết Nh không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định.
Nh điều khiển xe mô tô biển số 86B2-223.60 chạy đến Km 1666 + 550m Quốc lộ 1A thuộc thôn Bình Sơn, xã Bình Tân, huyện B, tỉnh Bình Thuận (là nơi gần đoạn mở dải phân cách, có biển cảnh báo nguy hiểm “biển báo đƣờng ngƣời đi bộ cắt ngang”) với tốc độ khoảng 60 km/h và chạy trên làn đƣờng hỗn hợp dành cho xe ô tô và xe mô tô. Lúc này, Nh nhìn thấy phía trƣớc có xe mô tô 86B2 - 346.94 do chị Nguyễn Thị Mỹ Liên điều khiển chạy cùng chiều từ làn đƣờng dành cho xe mô tô và xe thô sơ chuyển hƣớng vào làn đƣờng hỗn hợp dành cho xe ô tô và xe mô tô, cách xe mô tô của Nh điều khiển khoảng 40 m thì Nh giảm tốc độ xe mô tô biển số 86B2-223.60 xuống còn khoảng 50 km/h (theo lời khai của Nh) và tiếp tục điều khiển xe chạy. Khi Nh điều khiển xe mô tô biển số 86B2-223.60 trên chạy vào đoạn mở dãi phân cách và cách xe mô tô biển số 86B2-346.94 do chị Liên điều khiển khoảng 03 – 04m thì chị Liên điều khiển xe chuyển hƣớng từ phải qua trái để qua phần đƣờng bên trái. Do tốc độ nhanh và khoảng cách gần nên Nh không xử lý kịp dẫn đến xe mô tô biển số 86B2-223.60 do Nh điều khiển đã tung vào phần giữa phía bên trái xe mô tô biển số 86B2-346.94 do chị Liên điều khiển làm 2 xe mô tô ngã nằm trên làn đƣờng dành cho xe ô tô thuộc phần đƣờng phải (hƣớng Phan Rang đi Phan Thiết). Nh, T và chị Liên ngã xuống đƣờng bị thƣơng đƣợc ngƣời dân đƣa đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày chị Liên chết. 02 xe mô tô bị hƣ hỏng (Bút lục số 29-32, 63-66)
* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng ngày 02/12/2020 xác định :
- Đoạn đƣờng xảy ra tai nạn là đoạn mở dải phân cách dài 25 m; đoạn đƣờng thẳng. Trên đƣờng chia thành hai phần đƣờng xe chạy, trên một phần đƣờng đƣợc chia thành ba làn đƣờng, làn đƣờng dành cho xe ô tô rộng 3,50 m, làn đƣờng dành cho xe ô tô và mô tô rộng 3,50 m, làn đƣờng dành cho xe mô tô và xe thô sơ rộng 2,0 m.
- Đặt vị trí số: (1- 2 ): vị trí vết cày 1; (3 - 4): vị trí vết cày 2; (5): Tâm vết máu kích thƣớc (0,70 x 0,55) m; (6): Tâm vùng mãnh vỡ kích thƣớc (6,0 x 3,20) m.
- Chiều khám nghiệm là hƣớng Phan Rang đi Phan Thiết.
- Điểm chuẩn hiện trƣờng là biển báo “đƣờng ngƣời đi bộ cắt ngang” đo vuông góc kéo dài cùng chiều khám nghiệm đến vị trí số 1 là đầu vết cày 1 với kích thƣớc là 6,75 m + 15,65 m = 22,40 m.
- Chọn mép đƣờng phải làm mép đƣờng chuẩn.
*Mô tả hiện trường:
- (1 – 2) vết cày 1 không liên tục dài 10,75 m, đầu vết cày cách mép đƣờng chuẩn là 5,85 m, cuối vết cày nằm trùng với giữa xe mô tô 86B2 – 223.60 cách mép đƣờng chuẩn là 6,10 m, vết cày rộng nhất 0,15 m.
- (3 – 4) vết cày 2 không liên tục dài 7,10 m, đầu vết cày cách mép đƣờng chuẩn là 5,70 m, cách vị trí số 1 là 0,60 m, cuối vết cày nằm trùng với trục giữa xe mô tô 86B – 346.94, cách mép đƣờng chuẩn là 6,45 m, cách vị trí số 2 là 3,0 m, vết cày rộng nhất 0,10 m.
- (5) Tâm vết máu kích thƣớc (0,70 x 0,55) m, tâm vết máu cách lề chuẩn 6,50 m, cách vị trí số 2 là 1,0 m, cách vị trí số 4 là 1,90 m.
- (6) Tâm vùng mãnh vỡ kích thƣớc (6,0 x 3,20) m, tâm vùng mãnh vỡ cách lề chuẩn là 6,40 m, cách vị trí số 5 là 1,10 m, cách vị trí số 4 là 0,80 m, cách vị trí số 2 là 2, 10 m.
- Sau khi tai nạn xe mô tô 86B2 – 223.60 nằm ngã nghiêng sang trái, đầu xe hƣớng mép lề chuẩn, tâm trục bánh trƣớc cách mép lề chuẩn là 5,70 m, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn là 6,50 m.
- Sau khi tai nạn xe mô tô 86B2 – 346.94 nằm ngả nghiêng sang phải, đầu xe hƣớng vào đoạn mở dải phân cách, tâm trục cách mép lề chuẩn của bánh xe trƣớc là 6,90 m, tâm trục bánh sau cách mép lề chuẩn là 5,90 m. (Bút lục 163, 166)
*Tại Biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến TNGT xác định các dấu vết nhƣ sau:
- Đối với xe mô tô biển số 86B2 – 223.60:
+ Bung rời kính chiếu hậu phía trƣớc bên phải, gãy bung rời cần gƣơng chiếu hậu bên trái.
+ Bung rời hệ thống đèn chiếu sáng phía trƣớc, đèn xi nhan trái phải.
+ Gãy bung óp nhựa phía trên đèn xi nhan bên phải.
+ Bung rời dè chắn bùng trƣớc, sau bánh xe trƣớc.
+ Gãy cong lệch chản ba bánh trƣớc hƣớng từ trƣớc ra sau.
+ ½ dƣới ống phụt bên trái bánh xe trƣớc bị bể kích thƣớc (7 x 3,5) cm.
+ Niền bánh xe trƣớc bị cong móp biến dạng hƣớng từ ngoài vào trong, từ phải qua
trái kèm cong móp biến dạng 10 cây căm niền xe.
+ Bể rời một phần cùm xe bên phải, bung vỏ và ruột xe ra khỏi niền xe, ruột xe bị
rách kích thƣớc (10 x 4) cm.
+ Bung rời bửng chắn gió hai bên trái, phải.
+ Ốp kim loại bảo vệ bô xe có vết chà xƣớc kim loại kèm cong móp, dính vết màu
nâu đỏ nghi máu đã khô kích thƣớc (55 x 9) cm. (Bút lục số 157, 158)
- Đối với xe mô tô biển số 86B2-346.94:
+ Bung rời kính chiếu hậu bên trái kèm cong lệch cần gƣơng chiếu hậu hƣớng từ trái qua phải.
+ Góc co cần gƣơng chiếu hậu bên phải có vết chà xƣớc kim loại kích thƣớc (2 x 1,5) cm.
+ Bung hở óp nhựa phía trên đèn chiếu sáng phía trƣớc kèm chà xƣớc nhựa ½ bên phải kích thƣớc (10 x 7) cm.
+ Gãy bung kèm chà xƣớc nhựa mặt ngoài đèn chiếu sáng phía trƣớc, xi nhan bên phải kích thƣớc (18 x 5) cm.
+ Đầu cần thắng tay bên phải có vết chà khuyết kim loại kích thƣớc (1,2 x 1) cm.
+ Đầu dè chắn bùn trƣớc bánh xe trƣớc có vết chà xƣớc nhựa kích thƣớc (10 x 8) cm.
+ Cong lệch chản ba bánh trƣớc hƣớng từ trƣớc ra sau.
+ Gãy vỡ óp nhựa hong xe phía trƣớc bên trái kích thƣớc (17 x 8) cm.
+ Cần đạp số trƣớc bên trái bị cong lệch trƣớc ra sau, trái qua phải; mặt ngoài có dính vết màu nâu đỏ nghi máu kích thƣớc (4 x 2,5) cm; cần đạp số sau bị cong lệch áp sát vào lóc máy.
+ Đầu cần đạp thắng trƣớc bên phải có vết chà xƣớc kim loại kích thƣớc (2 x 0,8) cm.
+ Cần đạp trƣớc bên phải bị cong lệch hƣớng từ trƣớc ra sau, dƣới lên trên.
+ Gãy bung hở ½ óp nhựa dƣới trƣớc yên xe.
+ Đầu cần để chân sau bên phải có vết chà xƣớc kim loại kích thƣớc (2 x 1,5) cm.
+ Cuối óp kim loại bảo vệ pô xe có vết chà xƣớc kèm cong mép kích thƣớc (7 x 5) cm.
+ Mặt ngoài ba ga bắt sau bên phải có vết chà xƣớc kim loại kích thƣớc (13 x 0,5) cm. (Bút lục số 153, 154)
* Ngày 04/02/2021, Cơ quan CSĐT đã tiến hành thực nghiệm điều tra dựng lại hiện trƣờng, xác định:
- Hiện trƣờng xảy ra tai nạn là đoạn mở dải phân cách, đoạn đƣờng thẳng, mặt đƣờng trải nhựa màu đen bằng phẳng.
- Chọn chiều thực nghiệm hƣớng Phan Rang đi phan Thiết.
- Chọn mép đƣờng phải làm mép đƣờng chuẩn. Điểm chuẩn là biển báo đƣờng ngƣời đi bộ cắt ngang.
Đặt vị trí số (1) là đầu vết cày 1; vị trí số (2) là cuối vết cày 1; vị trí số (3) là đầu vết cày 2; vị trí số (4) là cuối vết cày 2; vị trí số (5) là tâm vết máu; vị trí số (6) là tâm vùng mạnh vỡ.
Tất cả các vị trí từ số (1) đến (6) đều nằm trên làn đƣờng ô tô bên phần đƣờng phải. Các số đo từ vị trí số (1) đến vị trí số (6) đã đƣợc ghi nhận tại biên bản khám nghiệm hiện trƣờng vụ tai nạn giao thông ngày 02/12/2020 của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện B.
Ngoài ra ghi nhận thêm các khoảng cách, cụ thể:
- Cách vị trí số (1) về hƣớng Phan Rang 2m65 là mép cuối vạch kẻ đƣờng dành cho ngƣời đi bộ.
Đo từ vị trí số (1) vào tim vạch phân chia hai làn đƣờng là 35 cm.
Đo vuông góc từ vị trí số (1) về hƣớng Phan Rang đo vào tâm đầu đoạn mở dải phân cách (theo hƣớng Phan Rang đi phan Thiết) là 7 m75 + 3m85 = 11m60.
Đo từ biển báo hiệu đƣờng ngƣời đi bộ cắt ngang đo về hƣớng Phan Rang là 26m70 là biển báo giao nhau với đƣờng không ƣu tiên trên bên phải. Tiến hành kiểm tra thực tế, qua hết đoạn mở một đoạn khoảng hơn 20m có 01 đƣờng nhánh bên phải nối với đƣờng QL 1A. (Bút lục số 112, 113)
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 1320/PY-PC09 ngày 21/12/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận nguyên nhân chết của bà Liên nhƣ sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Chấn thƣơng vết thƣơng vùng đầu; mặt; chân trái.
- Vỡ sập xƣơng sọ trán - xuất huyết não.
- Gãy xƣơng đùi trái. Gãy hai xƣơng cẳng chân trái.
2. Nguyên nhân chết: Chấn thƣơng sọ não. (Bút lục số 127, 128)
Về tang, vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an huyện B tạm giữ mô tô biển số 86B2-223.60 và xe mô tô biển số 86B2-346.94. Sau khi khám xe mô tô, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 86B2-223.60 cho chủ sở hữu là ông Thanh Hà và trả xe mô tô 86B2-346.94 cho chủ sở hữu là ông Võ Tấn Sang (chồng hợp pháp của Nguyễn Thị Mỹ Liên).
Về phần dân sự: Sau tai nạn, Nguyễn Thị Minh Nh và Thanh Thị T cùng gia đình đã đến gia đình nạn nhân Nguyễn Thị Mỹ Liên hỏi thăm, thỏa thuận thống nhất bồi thƣờng số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mƣơi triệu đồng), trong đó gia đình của Nh là 75.000.000 đồng (Bảy mƣơi lăm triệu đồng), gia đình của T là 75.000.000 đồng (Bảy mƣơi lăm triệu đồng). Ông Võ Tấn Sang (sinh năm: 1980; trú tại: thôn Bình Nghĩa, xã Bình Tân, huyện B) là đại diện hợp pháp của nạn nhân Nguyễn Thị Mỹ Liên đã nhận 150.000.000 đồng và làm đơn bãi nại cho Nguyễn Thị Minh Nh và Thanh Thị T, không yêu cầu bồi thƣờng thêm.
Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS.HBB ngày 14/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố bị cáo Thanh Thị T về tội: “Giao cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ nguyên quyết định truy tố theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại Bản cáo trạng nêu trên. Sau khi luận tội, Kiểm sát viên đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 264; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Thanh Thị T cải tạo không giam giữ từ 6 tháng đến 9 tháng; Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh từ 12 tháng đến 18 tháng nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến tháng 36 tháng.
Các bị cáo Thanh Thị T, Nguyễn Thị Minh Nh không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo
Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại điện Viện kiểm sát là có căn cứ nên có cơ sở để xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Thanh Thị T và Nguyễn Thị Minh Nh không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay,các bị cáo đã thừa nhận: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 02/12/2020 tại Km 1666+550m Quốc lộ 1A thuộc thôn Bình Sơn, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo Thanh Thị T biết rõ bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định nhƣng vẫn giao xe mô tô biển số 86B2-223.60 có dung tích xy lanh 110cm3 cho Nguyễn Thị Minh Nh điều khiển.Khi Nguyễn Thị Minh Nh điều khiển xe mô tô biển số 86B2-223.60 đến đoạn đƣờng có biển báo nguy hiểm (là biển báo đƣờng ngƣời đi bộ cắt ngang), nhƣng Nh không giảm tốc độ đến mức an toàn nên đã điều khiển xe mô tô biển số 86B2-223.60 đụng vào xe mô tô biển số 86B2-346.94 do chị Nguyễn Thị Mỹ Liện điều khiển chạy phía trƣớc đang chuyển hƣớng qua đƣờng, làm chị Liên bị thƣơng nặng đƣợc đƣa đi cấp cứu thì chết do chấn thƣơng sọ não.
Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thanh Thị T phạm tội: “Giao cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi nêu trên của bị cáo Thanh Thị T đã vi phạm vào khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đƣờng bộ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh đã vi phạm vào khoản 1 Điều 5 Thông tƣ số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải, khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đƣờng bộ.
Tuy Nhên, trong vụ án này, xét thấy bị hại Nguyễn Thị Mỹ Liên cũng có một phần lỗi. Đó là: Chuyển hƣớng qua đƣờng không đảm bảo an toàn đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đƣờng bộ.
Với hành vi nêu trên và hậu quả để lại, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố bị cáo Thanh Thị T phạm tội: “Giao cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở và đúng pháp luật.
Các bị cáo hoàn toàn nhận thức đƣợc phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ là nguồn nguy hiểm cao độ, nếu không chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đƣờng bộ thì sẽ gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Qua diễn biến của vụ án thể hiện: Khi điều khiển xe mô tô biển số 86B2-223.60, bị cáo Thanh Thị T không có giấy phép lái xe lại giao xe mô tô biển số 86B2-223.60 cho bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh cũng không có giấy phép lái xe mô tô, điều khiển xe mô tô chạy trên quốc lộ 1A, thiếu chú ý quan sát phía trƣớc, không giảm tốc độ đến mức an toàn. Đây là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội và đã gây ra hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại về T mạng của công dân. Nếu các bị cáo chấp hành tốt Luật giao thông đƣờng bộ thì tai nạn giao thông đã không xảy ra.Song trong vụ án này, ngƣời bị hại cũng có một phần lỗi
Hành vi phạm tội của các bị cáo không những gây thiệt hại đến T mạng của công dân mà còn gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ.Do đó, nghĩ cần phải xử lý nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3]Tình tiết giảm nhẹ trách Nhệm hình sự: Tuy Nhên,xét sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình ngƣời bị hại. Gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo có nhân thân tốt. Các bị cáo là sinh viên. Bị cáo Thanh Thị T phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách Nhệm hình sự đƣợc quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Vì thế, nghĩ nên áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh dƣới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh khỏi xã hội mà chỉ cần để cho bị cáo tự cải tạo dƣới sự giám sát và giáo dục của chính quyền địa phƣơng là đủ.
Bị cáo Thanh Thị T phạm tội khi chƣa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức về T chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi còn Nhều hạn chế. Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Thanh Thị T theo quy định tại khoản 2 Điều 100 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Về trách Nhệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay, bị hại không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo Thanh Thị T và Nguyễn Thị Minh Nh phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của BLTTHS.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 268; Khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Thanh Thị T phạm tội: “Giao cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông”
Bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 264; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 36, Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Thanh Thị T 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ T từ ngày UBND xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận nhận đƣợc Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Thanh Thị T cho UBND xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.
Trong trƣờng hợp ngƣời bị kết án thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Trƣờng hợp ngƣời chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ vi phạm nghĩa vụ đƣợc quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự thì sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 105 Luật Thi hành án hình sự.
Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Thanh Thị T.
Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh 12 (Mƣời hai) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mƣơi bốn) tháng (Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 30/09/2021)
Giao bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh cho UBND xã Phan Rí Thành, huyện B, tỉnh Bình Thuận giám sát giáo dục.
Trong trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
Áp dụng: Khoản 2, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thƣờng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các bị cáo Thanh Thị T và Nguyễn Thị Minh Nh: Mỗi ngƣời phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Thị Minh Nh)
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN THỊ PHƢƠNG DUNG TẠ VĂN VIỆT
LÂM QUỐC TUẤN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND huyện B; -Công an huyện BắcBình; -Chi cục THADS huyện B; -Bị cáo; -Đại diện bị hại; -Lưu HS+VP
LÂM QUỐC TUẤN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -VKSND huyện B; -Công an huyện BắcBình; -Chi cục THADS huyện B; -Bị cáo; -Đại diện bị hại; -Lưu HS+VP | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÂM QUỐC TUẤN |