vanban.org

Bản án 94/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và l phí T a án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu h i i n của bà Nguyễn Thị Bích T đối với ông Nguyễn Phước G (N) và bà Nguyễn Thị Anh T1. Tuyên bố Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Bích Tuyến với ông Nguyễn Phước G (N) và bà Nguyễn Thị Anh T1 vô hi u. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và l phí T a án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 131 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 94/2021/DS-ST
Ngày: 11/8/2021
V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố
quyền sử dụng đất và hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Lâm Sơn.

2. Ông Trương Phước Công.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên - Thư T a án nhân dân huy n Chợ Mới t nh An Giang.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Ch M i, t nh n Giang tham gia phiên toà: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2021 tại trụ s T a án nhân dân huy n Chợ Mới t nh An Giang xét xử sơ thẩm công hai vụ án thụ l số: 206/2021/TLST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp “H p đồng cầm cố quyền sử dụng đất và H p đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 342/2021/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T sinh năm 1984; địa ch : ấp L xã A huy n C t nh An Giang (Có mặt).

2. B đơn:

2.1. Ông Nguyễn Phước G (N) sinh năm 1979; địa ch : ấp Đ xã M huy n C t nh An Giang (Có mặt).

2.2. Bà Nguyễn Thị Anh T1 sinh năm 1981; địa ch : ấp Đ xã M huy n C t nh An Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn h i i n tờ tự hai và các biên bản h a giải nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T trình bày: Do quen biết nên vào ngày 03/5âl/2019 (nhằm ngày 05/6/2019) giữa bà T với vợ chồng ông Nguyễn Phước G (N) bà Nguyễn Thị Anh T1 có xác lập hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày 03/5âl/2019 nhưng hông công chứng chứng thực theo quy định. Theo nội dung hợp đồng ông G bà T1 cố cho bà T quyền sử dụng đất di n tích 02 công (2000m2) loại đất trồng xoài đất tọa lạc ấp Đ xã M huy n Chợ Mới t nh An Giang với giá 50.000.0000 đồng bà T đã giao đủ số tiền 50.000.000 đồng cho ông G bà T1. Sau hi giao nhận tiền cầm cố xong thì phía ông G bà T1 thỏa thuận thuê quyền sử dụng đất di n tích đất nói trên với giá là 10.000.000 đồng/năm để canh tác. Do đó từ hi cầm cố quyền sử dụng đất với vợ chồng ông G bà T1 đến nay bà T hông nhận đất hông canh tác đất.

Ngoài ra ngày 10/5âl/2019 ông G bà T1 có vay của bà T số tiền 2.000.000 đồng hông thỏa thuận lãi suất hông thỏa thuận thời hạn trả nợ. Vi c vay tiền này hông làm hợp đồng. Đã hết thời hạn mà vợ chồng ông G bà T1 hông trả lại tiền cố đất tiền vay cho bà T nên ngày 17/12/2020 ông G bà T1 viết tờ cam ết với nội dung sẽ trả 52.000.000 đồng cho bà T vào ngày 01/01/2021. Tuy nhiên đến nay ông G bà T1 hông thực hi n nghĩa vụ theo cam ết mặc dù bà T đã nhiều lần yêu cầu ông G bà T1 trả nợ. Vì vậy bà T yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất lập ngày 03/5âl/2019 giữa bà Nguyễn Thị Bích T với ông Nguyễn Phước G và bà Nguyễn Thị Anh T1 là vô hi u; yêu cầu ông G bà T1 trả lại số tiền cố đất 50.000.000 đồng tiền vay c n nợ 2.000.000 đồng rút lại yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật đối với số tiền cố đất tiền vay; hông tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng nói trên; hông yêu cầu T a án đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp. Đối với yêu cầu trả dần của ông G bà T1 thì bà hông đồng .

Tại phiên t a bà T giữ nguyên yêu cầu h i i n.

B đơn ông Nguyễn Phư c G, bà Nguyễn Th nh T1 trình bày: Do quen biết nên vào ngày 03/5âl/2019 (nhằm ngày 05/6/2019) giữa vợ chồng ông bà với bà Nguyễn Thị Bích T có xác lập hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày 03/5âl/2019 nhưng hông công chứng chứng thực theo quy định. Theo nội dung hợp đồng vợ chồng ông bà cố cho bà T quyền sử dụng đất di n tích 02 công (2000m2) loại đất trồng xoài đất tọa lạc ấp Đ xã M huy n Chợ Mới t nh An Giang với giá 50.000.0000 đồng. Khi vợ chồng ông bà cố quyền sử dụng đất cho bà T thì đất chưa được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng cách nay hoảng 01 năm thì ông G đã được Ủy ban nhân dân huy n Chợ Mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất di n tích 1.800m2 (đo đạc theo thực tế) mang tên Nguyễn Phước G (ông hông nhớ số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sau hi xác lập hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất thì bà T đã giao đủ số tiền 50.000.000 đồng cho vợ chồng ông bà.

Sau hi giao nhận tiền cầm cố xong thì vợ chồng ông bà thỏa thuận thuê quyền sử dụng đất di n tích đất nói trên với giá là 10.000.000 đồng/năm để canh tác. Do đó từ hi cầm cố quyền sử dụng đất với bà T đến nay thì bà T hông nhận đất hông canh tác đất.

Ngoài ra ngày 10/5âl/2019 vợ chồng ông bà có vay của bà T số tiền 2.000.000 đồng hông thỏa thuận lãi suất hông thỏa thuận thời hạn trả nợ. Vi c vay tiền này hông làm hợp đồng. Đến nay đã hết thời hạn mà vợ chồng ông bà chưa chuộc lại đất trả tiền cố đất tiền vay cho bà T nên ngày 17/12/2020 vợ chồng ông bà viết tờ cam ết với nội dung sẽ trả 52.000.000 đồng cho bà T vào ngày 01/01/2021 nhưng đến nay vợ chồng ông bà vẫn chưa trả cho bà T.

Nay đối với yêu cầu của bà T yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất lập ngày 03/5âl/2019 giữa bà Nguyễn Thị Bích T với vợ chồng ông bà là vô hi u thì vợ chồng ông bà đồng ; đồng trả lại số tiền cố đất 50.000.000 đồng tiền vay c n nợ 2.000.000 đồng cho bà T nhưng hoàn cảnh hi n nay hó hăn yêu cầu trả 5.000.000đồng/tháng cho đến hi hết số tiền c n nợ 52.000.000 đồng và yêu cầu đến ngày 23/7/2021 sẽ trả trước cho bà T 10.000.000 đồng (02 tháng yêu cầu trả dần). Vợ chồng ông bà hông tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng nói trên; hông yêu cầu T a án đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp.

Tại phiên t a ông G bà T1 trình bày hoàn cảnh hó hăn xin thời hạn 03 tháng từ ngày 11/8/2021 đến ngày 11/11/2021 sẽ trả dứt số tiền 52.000.000 đồng cho bà T.

Đại di n Vi n iểm sát nhân dân huy n Chợ Mới phát biểu iến về vi c tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử vi c chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng ể từ hi thụ l vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý iến về vi c giải quyết vụ án: Vào ngày 03/5âl/2019 ông Nguyễn Phước G và bà Nguyễn Thị Anh T1 có cố cho bà Nguyễn Thị Bích T 02 công đất vườn xoài (di n tích 1800m2 đo đạc thực tế) tại ấp Đ xã M với số tiền 50.000.000 đồng thời hạn cố là 01 năm bà T đã giao đủ 50.000.000 đồng cho ông G bà T1. Sau đó ông G và bà T1 thuê lại di n tích đất trên với giá 10.000.000 đồng/năm để canh tác chưa trả tiền thuê đất cho bà T. Đến ngày 10/5âl/2019 ông G và bà T1 vay của bà T 2.000.000 đồng hông thỏa thuận lãi suất thời hạn vay và hông làm hợp đồng. Đến thời hạn chuộc đất nhưng ông G và bà T1 hông thực hi n bà T nhiều lần đ i nên ngày 17/12/2020 ông G và bà T1 viết tờ cam ết đến ngày 01/01/2021 sẽ trả bà T tiền cố đất và tiền vay tổng cộng 52.000.000 đồng nhưng đến nay chưa thực hi n. Nay bà T h i i n yêu cầu tuyên bố hợp đồng cố đất giữa bà và vợ chồng ông G bà T1 vô hi u yêu cầu ông G bà T1 trả cho bà tiền cố đất và tiền vay tổng cộng 52.000.000 đồng. Rút lại yêu cầu tính lãi.

Tại phiên t a các đương sự thống nhất: ông Nguyễn Phước G và bà Nguyễn Thị Anh T1 trả cho bà Nguyễn Thị Bích T 52.000.000 đồng trong thời hạn 03 tháng ể từ ngày 11/8/2021 đến ngày 11/11/2021.

Xét thấy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà T với ông G bà T1 được xác lập trên cơ s tự nguy n thỏa thuận. Tuy nhiên đây là giao dịch dân sự tự phát trong nhân dân hông được pháp luật về đất đai quy định nên bị vô hi u theo quy định tại Điều 116 117 Bộ luật Dân sự. Do giao dịch dân sự vô hi u nên hông làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên nên cần giao trả cho nhau những gì đã nhận theo Điều 131 Bộ luật Dân sự cụ thể: Buộc ông G bà T1 trả cho bà T số tiền 50.000.000 đồng.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng ông G bà T1 vay của bà T nhưng hông thỏa thuận lãi suất thời hạn trả và hông làm biên nhận nợ. Tuy nhiên ông G và bà T1 thừa nhận có vay số tiền trên nên có cơ s chấp nhận yêu cầu h i i n của bà T. Do ông G bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà T i n yêu cầu trả nợ là phù hợp Điều 463 466 Bộ luật Dân sự.

Về lãi suất do bà T rút lại yêu cầu tính lãi suất nên cần đình ch .

Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 116 117 131 463 466 Bộ luật Dân sự; Điều 166 167 Luật Đất đai; Điều 217 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị:

- Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Bích T với ông Nguyễn Phước G bà Nguyễn Thị Anh T1 vô hi u.

- Chấp nhận yêu cầu h i i n của bà Nguyễn Thị Bích T đối với ông Nguyễn Phước G bà Nguyễn Thị Anh T1.

- Buộc ông Nguyễn Phước G bà Nguyễn Thị Anh T1 trả cho bà Nguyễn Thị Bích T 52.000.000 đồng từ ngày 11/8/2021 đến ngày 11/11/2021.

- Đình ch đối với yêu cầu tính lãi suất của bà Nguyễn Thị Bích T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a và căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên t a Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn h i i n bị đơn ông Nguyễn Phước G bà Nguyễn Thị Anh T1. Ông G bà T1 có nơi cư trú ấp Đ xã M huy n Chợ Mới t nh An Giang nên T a án nhân dân huy n Chợ Mới thụ l giải quyết là đúng thẩm quyền theo Điều 35 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan h tranh chấp: Nguyên đơn h i i n bị đơn ông G bà T1 yêu cầu tuyên bố Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất lập ngày 03/5âl/2019 (nhằm ngày 05/6/2019) vô hi u; yêu cầu thanh toán nợ vay theo Hợp đồng vay tài sản lập ngày 10/5âl/2019”. Do vậy vụ án được xác định là tranh chấp về giao dịch dân sự về Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và Hợp đồng vay tài sản được quy định tại hoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015.

Trong quá trình giải quyết và tại phiên t a hôm nay nguyên đơn bà T xin thay đổi một phần yêu cầu h i i n rút lại yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật đối với số tiền cố đất tiền vay đối với ông G bà T1. Xét thấy đây là quyền tự định đoạt của đương sự và sự thay đổi này hông vượt quá phạm vi h i i n ban đầu. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử đình ch một phần yêu cầu h i i n của nguyên đơn là phù hợp.

Xét hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa các đương sự: Trong quá trình giải quyết và tại phiên t a hôm nay các đương sự đều thống nhất di n tích đất thời gian và số tiền cầm cố quyền sử dụng đất và đều thống nhất tuyên bố Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất lập ngày 03/5âl/2019 (nhằm ngày 05/6/2019) vô hi u. Xét thấy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà T với ông G bà T1 có lập thành văn bản ngày 03/5âl/2019 trên cơ s tự nguy n thỏa thuận và sự thỏa thuận của các đương sự hông trái với đạo đức xã hội. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 168 Luật đất đai năm 2013 thì thời điểm được thực hi n các quyền của người sử dụng đất như sau: Người sử dụng đất được thực hi n các quyền chuyển nhượng cho thuê cho thuê lại tặng cho thế chấp góp vốn quyền sử dụng đất hi có Giấy chứng nhận”. Đối chiếu với các quyền của người sử dụng đất nói trên thì thời điểm bên có quyền sử dụng đất ông G, bà T1 hông có quyền Cầm cố quyền sử dụng đất”. Mặt hác hai bên giao ết hợp đồng năm 2019 hông tuân thủ theo quy định tại Điều 167 Luật đất đai năm 2013. Do đó hi có phát sinh tranh chấp thì hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà T với ông G bà T1 ngày 03/5âl/2019 vô hi u theo quy định tại các Điều 122 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 166 167 Luật Đất đai năm 2013 và giải quyết hậu quả của hợp đồng. Theo đó ông G bà T1 có nghĩa vụ giao trả cho bà T số tiền cầm cố 50.000.000 đồng; bà T có nghĩa vụ giao trả cho ông G bà T1 di n tích đã đất cầm cố. Tuy nhiên từ hi hai bên giao ết hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất đến nay bà T hông nhận đất canh tác mà ông G bà T1 đang quản l sử dụng. Do đó T a án hông buộc bà T giao trả di n tích đất cầm cố cho ông G bà T1 là có cơ s .

Đối với hợp đồng vay tài sản: Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự đều thống nhất số tiền vay thời gian vay và hi n nay ông G bà T1 c n nợ bà T số tiền 2.000.000 đồng. Do đó căn cứ hoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có đủ cơ s xác định các bên đã xác lập hợp đồng vay tài sản trên cơ s tự nguy n thỏa thuận hông vi phạm điều cấm của luật hông trái đạo đức xã hội vi c ông G bà T1 đã vay tiền của bà T số tiền vay 2.000.000 đồng là có thật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 463 Điều 466 luật dân sự 2015. Nay bà T h i i n yêu cầu ông G bà T1 trả số tiền vay 2.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu xin trả dần của ông G bà T1. Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên T a hôm nay ông G bà T1 có yêu cầu xin trả số tiền 52.000.000 đồng trong thời hạn 03 tháng từ ngày 11/8/2021 đến ngày 11/11/2021 và yêu cầu này được bà T chấp nhận. Xét đây là quyền tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bà T với ông G bà T1 về phương thức thanh toán số tiền 52.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu của các đương sự hông yêu cầu T a án xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc tài sản tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy di n tích đất tranh chấp từ hi các bên thực hi n giao hợp đồng đến nay thì bà T hông nhận đất để canh tác mà do ông G bà T1 quản l sử dụng nên T a án hông xem xét giải quyết về vi c giao trả di n tích đất cầm cố giữa các đương sự.

Đối với Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất do các đương sự hông tranh chấp và hông yêu cầu nên Hội đồng xét xử hông đề cập giải quyết.

Từ những phân tích trên có cơ s buộc ông Nguyễn Phước G bà Nguyễn Thị Anh T1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Bích T số tiền cầm cố quyền sử dụng đất 50.000.000 đồng số tiền vay 2.000.000 đồng tổng cộng 52.000.0000 (năm mươi hai tri u) đồng trong thời hạn 03 tháng ể từ ngày 11/8/2021 đến ngày 11/11/2021.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích T được chấp nhận nên ông Nguyễn Phước G bà Nguyễn Thị Anh T1 phải chịu án phí theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và l phí T a án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Các Điều 26 Điều 35 Điều 39 Điều 144 Điều 147 Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 122 Điều 131, Điều 463 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 167, Điều 168 Luật đất đai năm 2013;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và l phí T a án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu h i i n của bà Nguyễn Thị Bích T đối với ông Nguyễn Phước G (N) và bà Nguyễn Thị Anh T1.

Tuyên bố Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Bích Tuyến với ông Nguyễn Phước G (N) và bà Nguyễn Thị Anh T1 vô hi u.

Buộc ông Nguyễn Phước G (N) và bà Nguyễn Thị Anh T1 có nghĩa vụ trả cho của bà Nguyễn Thị Bích T số tiền cầm cố quyền sử dụng đất 50.000.000 đồng số tiền vay 2.000.000 đồng tổng cộng 52.000.0000 (năm mươi hai tri u) đồng trong thời hạn 03 tháng ể từ ngày 11/8/2021 đến ngày 11/11/2021.

Kể từ ngày bản án quyết định có hi u lực pháp luật hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án thì bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đình ch yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật đối với số tiền cầm cố quyền sử dụng đất và số tiền vay của bà Nguyễn Thị Bích T đối với ông Nguyễn Phước G (N) và bà Nguyễn Thị Anh T1.

- Án phí dân sự sơ thẩm: 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Phước G (N) và bà Nguyễn Thị Anh T1 phải chịu.

Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Bích T tiền tạm ứng án phí 1.300.000 đồng (một tri u ba trăm nghìn) đồng mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0009593 ngày 08 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huy n Chợ Mới t nh An Giang.

Các đương sự được quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ