vanban.org

Bản án 94/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 29/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Khánh D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". 2.

Xử phạt bị cáo Dương Khánh D 03 (ba) tháng 10 (mười) ngày tù. Tuyên trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Khánh D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Khánh D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". 2.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 94/2020/HSST
Ngày: 29/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Dỉnh, Ông Phạm Quang Đôn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng; Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Khánh D; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 15 tháng 7 năm 1982, tại tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: xã Ph, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Dương Văn Ch và con bà Trịnh Thị X.

- Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Hoàng Thị H từ năm 2000 đến nay, nhưng chưa đăng ký kết hôn và có 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006).

- Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án; chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên từ ngày 19/6/2020 sau đó bị tạm giam cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 19/6/2020, bị cáo Dương Khánh D một mình đi bộ từ nhà ở tại Bản Tân Binh, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ đến khu vực giữa bản Lọng Luông 1, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 40 tuổi, D không biết tên và địa chỉ, hỏi mua được của người phụ nữ này 01 gói ma túy với giá 150.000đ tiền VNĐ. Mua xong ma túy D cất số ma túy đó vào giữa khe của ngón cái và ngón trỏ bàn chân trái và đi về đến khu vực bản Phăng 1, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên thì bị Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang. Ngày 20/6/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên gửi toàn bộ vật chứng thu giữ của bị cáo làm mẫu giám định. Tại bản Kết luận giám định số: 579/GĐ-PC09 ngày 27/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “- Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu V gửi giám định là chất ma túy loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018”.

- Khối lượng vật chứng ký hiệu M: 1,09 gam. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Bản cáo trạng số: 92/CT-VKSTPĐBP ngày 14/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Dương Khánh D về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 đến 09 tháng tù. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy vật chứng; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và bị cáo phải nộp án phí theo quy định. Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Lời nói sau cùng của bị cáo đã thừa nhận toàn bộ sự việc và nhận thức được hành vi mua ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát truy tố và luận tội đối với bị cáo là đúng, không bị oan sai. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Dương Khánh D trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật; Biên bản mở niêm phong lấy mẫu giám định, xác định khối lượng; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ để xác định vào ngày 19/6/2020, bị cáo Dương Khánh D đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,09 gam ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS:

Khoản 1: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

... c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;".

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bị cáo là nghiêm trọng. Mặc dù biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo đã cố ý mua ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm và nhanh chóng điều tra kết thúc vụ án, có ông nội là ông Dương Công Bằng được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương Kháng chiến Hạng Nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật. Bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ cư trú ổn định rõ ràng, chấp hành tốt chính sách, pháp luật; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; không có tiền án, tiền sự; bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo mới sử dụng ma túy từ tháng 5/2020 nhưng chưa đến mức phải lệ thuộc hoàn toàn vào ma túy, có nhiều khả năng tự cải tạo để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời không làm ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. Do vậy, không nhất thiết phải tiếp tục buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội nữa, mà áp dụng hình phạt tù bằng với thời gian bị cáo tạm giam cũng có đủ để giáo dục bị cáo và cũng cho bị cáo cơ hội để bị cáo tự giác cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện, từ bỏ ngay việc sử dụng ma túy. Đồng thời để bị cáo có cơ hội ở ngoài lao động sản xuất kiếm tiền cùng vợ nuôi dạy các con ăn học. [3] Về tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định tố tụng của các cá nhân và cơ quan điều tra, truy tố của thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên: Trong quá trình điều tra, truy tố các cá nhân và cơ quan điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cá nhân và cơ quan điều tra, truy tố của thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp. [4] Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy 0,71 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 01 (một) mảnh nilon màu đen là vật chứng của vụ án. [5] Các vấn đề khác:

- Bị cáo D khai mua ma túy của một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 40 tuổi không biết tên và địa chỉ, tại khu vực giữa bản Lọng Luông 1, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người phụ nữ này. [6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập không ổn định, không có tài sản gì có giá trị tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Dương Khánh D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Khánh D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Dương Khánh D 03 (ba) tháng 10 (mười) ngày tù.

- Tuyên trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,71 gam Heroine; 01 (một) mảnh nilon màu đen.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/9/2020 giữa Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Dương Khánh D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 29/9/2020./.

Cỡ chữ