vanban.org

Bản án 94/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 14/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị G phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bùi Thị G 14 (mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 28 (hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo G thay đổi nơi cư trú… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Giới - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị G phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 94/2020/HSST
Ngày: 14/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thanh Tú.

Các hội thẩm nhân dân : Bà Nguyễn Thị Cúc

Ông Vũ Mạnh Huề

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy–Cán bộ Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa:Bà Vũ Thị Thu Hà –Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2020/HSST ngày 9 tháng 3 năm 2020theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Thị G, Sinh năm:1956; Hộ khẩu thường trú và trú tại: Số 9 M, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Con ông: Bùi Thanh Q, Con bà: Trần Thị N ; Có chồng: Nguyễn Văn T, có 04 con, con lớn sinh năm:1974, con nhỏ sinh năm 1982; Tiền án, tiền sự: không

Danh chỉ bản số 17 lập ngày 07/02/2020 do Công an quận Hai Bà Trưng cung cấp.Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị G ngồi bán nướctại nhà số 9 M - P. Vĩnh Tuy - Hai Bà Trng - Hà Nội , khoảng đầu năm 2019 thì M bảo Bùi Thị G bán số lô, đề cho khách có nhu cầu đánh bạc rồi chuyển bảng cáp cho M , M quy ước với Bùi Thị G bán 1 điểm lô = 22.000đ, đề thu 80% tổng số tiền khách đánh và lô xiên thu 70% tổng số tiền khách đánh. Bùi Thị G bán số lô, đề cho khách rồi tập hợp vào bảng cáp đến khoảng 18h00 hàng ngày M sẽ qua lấy và đến sáng ngày hôm sau sẽ thanh toán số tiền thắng thua của khách đánh bạc ngày hôm trước. Bùi Thị G sẽ được hưởng lợi 2% tổng tiền khách đánh bạc trong bảng cáp. Sau đó, Bùi Thị G bán số lô, số đề cho M và thanh toán theo thỏa thuận. Ngày 21/08/2019 Bùi Thị G bán số lô, đề cho một số khách vãng lai nhưng không nhớ cụ thể là bán cho những ai và G còn cho 1 số người đánh bạc nợ tiền. Sau đó, Bùi Thị G bán số lô, số đề cho M và thanh toán theo thỏa thuận. Ngày 21/08/2019 Bùi Thị G bán số lô, đề cho một số khách vãng lai nhưng không nhớ cụ thể là bán cho những ai và G còn cho 1 số người đánh bạc nợ tiền. Khoảng 17h50’ cùng ngày, Bùi Thị G bán số lô 96-81 mỗi con 5 điểm với số tiền 220.000 đồng, số đề 43 x 20.000 đồng cho Nguyễn Văn B (sinh năm 1969, trú tại: số 15 M - P.Vĩnh Tuy - Hai Bà Trưng - Hà Nội) thì bị Công an phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội phát hiện bắt quả tang, thu giữ của B 1 tờ tích kê ghi số đề 96, 81 x 5 điểm, 10 điểm lô = 22.000 đồng, tổng số tiền B dùng để ghi lô, đề là 240.000 đồng. Thu giữ của Bùi Thị G là 1 bảng cáp thể hiện số tiền lô là 677 điểm x 22.000 đồng = 14.894.000 đồng, số đề 1.345.000 đồng, số lô xiên là 400.000 đồng, tổng số tiền là 16.639.000 đồng và số tiền là 3.486.000 đồng.

Ngày 28 tháng 9 năm 2019, Cơ quan CSĐT – Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 7265/KLGĐ-PC09-Đ4 ngày 19/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chữ số, chữ viết trên tờ tick kê thu giữ của Nguyễn Văn B và 01 bảng cáp thu giữ của Bùi Thị G, là chữ do cùng một người viết ra.

Đối với Nguyễn Văn B: Căn cứ Nghị quyết số 01/NQ ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao thì hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn B chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 10/2/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với B về hành vi đánh bạc theo khoản 1 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, mức phạt 350.000 đồng.

Đối với đối tượng M, bà G không rõ nhân thân lai lịch nên ngày 10 tháng 2 năm 2020 cơ quan CSĐT – Công an quận Hà Bà Trưng đã ra quyết định tách tài liệu liên quan đến đối tượng M để điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi đánh bạc (ghi số lô, số đề) trước ngày 21 tháng 8 năm 2019, do khách vãng lai mua số lô, số đề, Bùi Thị G không nhớ tên tuổi địa chỉ, vật chứng, không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với số tiền 3.486.000 đồng đã thu giữ, quá trình điều tra xác định là tiền Bùi Thị G bán số lô, số đề mà có. Số tiền còn lại thể hiện trong bảng cáp ghi số lô, số đề do G cho các đối tượng đánh bạc nợ nên Bùi Thị G phải chịu trách nhiệm tổng số tiền là 16.639.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 65/CT/VKS-HS ngày 04 tháng 3 năm 2020 đã truy tố bị cáo Bùi Thị G về tội Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan công an, công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Bùi Thị G như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụngkhoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Thị G với mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 24 đến 30 tháng thử thách.

Phạt tiền 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Số tiền 3.486.000 đồng thu giữ của bị cáo là tiền thu lời bất chính nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Buộc bị cáo truy thu số tiền thu lời bất chính 13.153.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà Nội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại số 9 M, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Bùi Thị G có hành vi Đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với tổng số tiền là 16.639.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Thị G đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

“Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Do đó viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo tội “Đánh bạc” theokhoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đánh bạc dưới hình thức ghi số lô số đề. Hành vi phạm tội của bị cáo là một tệ nạn xấu của xã hội đã bị pháp luật nghiêm cấm và cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ việc đánh bạc dưới mọi hình thức được thua bằng tiền đều là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời bị cáo vẫn thực hiện. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nhiêm trọng nên HĐXX áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức án treo và ấn định thời gian thử thách để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm để trở thành công dân tốt chấp hành pháp luật.

. Xét nhân thân của bị cáo không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Chồng của bị cáo được Chủ tịch ủy bản nhân dân thành phố Hà Nội tặng thưởng bằng khen của trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và bị cáo thuộc diện người cao tuổi. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tạicác điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với tội Đánh bạc quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Tuy nhiên, xét bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn,không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định. Chồng bị cáo hiện đang bị tai biến, đái tháo đường phải nằm một chỗ và phải thường xuyên phải đi điều trị tại bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

.Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 3.486.000 đồng thu giữ của bị cáo là tiền thu lời bất chính.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị G phạm tội: “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bùi Thị G 14 (mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 28 (hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo G thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáoBùi Thị G cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

3.Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 3.486.000 đồng.

Theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 4776 ngày 27 tháng 2 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ