vanban.org

Bản án 94/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Khắc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Khắc D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Khắc D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Khắc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2020/HS-ST
Ngày: 19.6.2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoài Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2020, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

Đỗ Khắc D, sinh năm 1995 tại Hà Nam; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Tiêu Hạ Nam, xã C, huyện D, tỉnh H; Chỗ ở: Tổ 5, ấp 6B, xã X, huyện Y, Tp. Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Trần Thị L; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

Bị hại: Ông Đoàn Thành L, sinh năm: 1994 (chết)

Địa chỉ: 21/3 khu phố 1, phường T, quận N, Tp. Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp cho bị hại Lợi là bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm: 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: 21/3 khu phố 1, phường T, quận N, Tp. Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đỗ Khắc V, sinh năm: 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm Chính, xã C, huyện D, tỉnh H.

2. Bà Đào Thu H, sinh năm: 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: 473/11 khu phố 3, phường T, Quận N, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 01/10/2019, Đỗ Khắc D điều khiển xe mô tô biển số 59G1-098.25 lưu thông trên đường Bùi Công Trừng hướng từ quận 12 về đường Đặng Thúc Vịnh. Khi đến giao lộ đường Bùi Công Trừng + đường nhị Bình 10A + đường đá không tên thuộc ấp 4, xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, D điều khiển xe mô tô vượt lên bên trái xe mô tô biển số 59L1-671.82 do Đoàn Thành L điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều, do không giữ khoảng cách trong khi vượt nên D đã để xe mô tô của mình điều khiển va chạm vào phần phía sau bên trái xe mô tô do L điều khiển làm cả hai té ngã xuống đường xảy ra tai nạn.

Hậu quả:

- Đoàn Thành L bị thương nặng và chết trên đường đi cấp cứu.

- Đỗ Khắc D bị thương nhẹ.

- Hai xe liên quan hư hỏng.

Địa điểm xảy ra tai nạn là giao lộ đường Bùi Công Trừng + đường Nhị Bình 10A + đường đá không tên thuộc ấp 4, xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, là đoạn đường thẳng được tráng nhựa bằng phẳng, áp dụng lưu thông hai chiều; có vạch sơn ở giữa phân chiều lưu thông. Mặt đường chiều lưu thông hướng từ Quận 12 về đường Đặng Thúc Vịnh rộng 3m50, chiều ngược lại rộng 3m70.

Kết luận giám định của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

“Dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 59L1-671.82 có chiều hướng từ sau về trước, từ phải sang trái, phù hợp với dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 51G1-098.25.

Khi va chạm, xe mô tô biển số 59G1-098.25 chuyển động theo hướng từ Quận 12 về đường Đặng Thúc Vịnh; xe mô tô biên số 59L1-671.82 chuyển động phía trước bên phải cùng chiều. Tại thời điểm va chạm, xe mô tô biển số 59G1-098.25 có tốc độ lớn hơn.”

Kết luận giám định pháp y về tử thi của Trung Tâm pháp y Tp. Hồ Chí Minh kết luận nguyên nhân tử vong của Đoàn Thành L: “Chấn thương sọ não/đa chấn thương, nồng độ Ethanol trong máu cao (174,52mg/100ml).”

Nguyên nhân chính xảy ra vụ tai nạn là do Đỗ Khắc D điều khiển xe mô tô biển số 59G1-098.25 là xe có dung tích xilanh 113cm3 mà không có giấy phép lái xe theo quy định; điều khiển xe trong lúc đã sử dụng rượu bia có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định (110mg/100ml); không giữ khoảng cách an toàn khi vượt xe nên đã gây tai nạn với hậu quả nghiêm trọng. Hành vi của Đỗ Khắc D đã vi phạm Điều 8, Điều 14, Điều 58 Luật Giao thông đường bộ Việt Nam. Hành vi này có đủ dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Đối với Đoàn Thành L điều khiển xe mô tô biển số 59L1-671.82 có lỗi điều khiển xe trong lúc đã uống rượu bia có nồng độ cồn trong máu (174,52mg/100ml) vượt quá quy định; điều khiển xe lưu thông xa lề phải. Hành vi của Đoàn Thành L đã vi phạm Điều 8, Điều 9 Luật Giao thông đường bộ Việt Nam. L có lỗi phụ trong vụ tai nạn. Sau tai nạn, Lợi đã chết.

Về dân sự: đã giải quyết xong, phía gia đình nạn nhân đã có đơn bãi nại cho Đỗ Khắc D và không có thắc mắc hay khiếu nại gì.

Về vật chứng:

- Xe mô tô biển số 59L1-671.82 do Đoàn Thành L đứng tên chủ sở hữu, cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho mẹ của Đoàn Thành L.

- Xe mô tô biển số 59G1-098.25 do Đỗ Khắc V là anh ruột của Đỗ Khắc D đứng tên chủ sở hữu. Khi D lấy xe đi thì V không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hóc Môn đã trả lại cho V quản lý.

Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKS-HS ngày 20 tháng 1 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Đỗ Khắc D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bị cáo Đỗ Khắc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Khắc D từ 03 năm đến 04 năm tù.

Bị cáo Đỗ Khắc D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Khắc D khai nhận: Bản thân điều khiển xe mô tô biển số 59G1-098.25 có dung tích xilanh 113cm3, không có giấy phép lái xe, điều khiển xe khi đã sử dụng rượu bia có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định và không giữ khoảng cách an toàn khi vượt xe nên đã gây tai nạn làm bị hại chết.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Đỗ Khắc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ Luật Hình Sự của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo dư luận xấu trong xã hội, vì vậy bị cáo phải chịu sự trách nhiệm về hành vi của mình. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét về nhân thân, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Về nhân thân bị cáo: chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, gia đình bị hại có đơn bãi nại nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: do không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Đỗ Khắc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Khắc D 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí TÆa án;

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ