vanban.org

Bản án 94/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh B về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Đào Xuân K.

1 Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh B được ly hôn với anh Đào Xuân K (Giấy chứng nhận kết hôn số 78/2000, quyển số 01 ngày 19/10/1992 do Ủy ban nhân dân phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp). 2 Về con chung: Giao con chung tên Đào Trà M, sinh ngày 15/12/2012 cho chị Nguyễn Thị Thanh B trực tiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thanh B tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Đào Xuân K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh B về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Đào Xuân K.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 26-8-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH B DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

2. Ông Tô Văn Nhung.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh B Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 403/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2020/QĐXX-ST ngày 14 tháng 7 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2020/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2020, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1977; thường trú: Hẻm 423 (số cũ 55/3), đường L, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2/ Bị đơn: Anh Đào Xuân K, sinh năm 1973; thường trú: Hẻm 423 (số cũ 55/3), đường L, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh B và anh Đào Xuân K có thời gian tìm hiểu hơn 01 năm thì tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 78/2000, quyển số 01 ngày 19/10/1992.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, thỉnh thoảng anh K còn đánh chị B dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn với anh Đào Xuân K.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đào Trà M, sinh ngày 15/12/2012 và Đào Nguyễn Thu T, sinh ngày 03/12/2000. Sau khi ly hôn, chị B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đào Trà M, sinh ngày 15/12/2012 và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000đ đến khi con chung đủ 18 tuổi. Đối với cháu Đào Nguyễn Thu T hiện đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết. Hiện nay, chị B làm công nhân tại Công ty TNHH Thương mại xuất nhập khẩu K, trụ sở khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Thu nhập trung bình 01 tháng từ 6.000.000đ đến 7.000.000đ.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Đào Xuân K: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án yêu cầu bị đơn có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, bị đơn không có ý kiến gì, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do nên Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị B được ly hôn với anh K.

+ Về con chung: Giao con chung tên Đào Trà M, sinh ngày 15/12/2012 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng; buộc anh Đào Xuân K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị B không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 13/7/2020 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh B và anh Đào Xuân K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 78/2000, quyển số 01 ngày 19/10/1992 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Chị Nguyễn Thị Thanh B xác định vợ chồng chung sống được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, thỉnh thoảng anh K còn đánh chị B dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân tại Hội liên hiệp phụ nữ phường D nhưng Hội liên hiệp phụ nữ không biết nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập anh K đến Tòa án để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh K không đến cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn, đồng thời chị B có đơn từ chối hòa giải. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng và cả hai đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị B là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đào Trà M, sinh ngày 15/12/2012. Khi giải quyết việc ly hôn, Tòa án cần xem xét đến sự phát triển của con chưa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Đào Trà M là con gái cần sự chăm sóc từ mẹ nhiều hơn. Quá trình tố tụng, anh Đào Xuân K không có ý kiến gì về việc chị B yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án tiếp tục giao con chung cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị B yêu cầu anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Quá trình tố tụng, anh K không cung cấp cho Tòa án công việc, mức thu nhập hiện nay. Tòa án đã yêu cầu chị B chứng minh về công việc, thu nhập của anh K nhưng chị B xác định chỉ biết anh K làm nghề lái xe cẩu tự do, thu nhập khoảng từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ nhưng chứng cứ cụ thể để chứng minh thì chị B không cung cấp được. Xét các tài liệu thu thập được về mức thu nhập, tuổi của con chung và hoàn cảnh sống của trẻ em trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở quy định của pháp luật, Tòa án thấy rằng trách nhiệm nuôi con là của chung hai vợ chồng do vậy cần buộc anh Đào Xuân K có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Tuy nhiên, không có tài liệu chứng minh anh Đào Xuân K có việc làm ổn định cũng như mức thu nhập cụ thể nên cần dựa vào mức lương cơ bản để giải quyết. Từ ngày 01/7/2020, mức lương cơ bản là 1.600.000đ, do đó chỉ có cơ sở chấp nhận buộc anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ là phù hợp với thu nhập trung bình của người lao động trên địa bàn cũng bảo đảm được nhu cầu của con chung hiện nay, bảo đảm cho cháu phát triển toàn diện về mọi mặt theo quy định tại Điều 58, 82, 116 Luật Hôn nhân và gia đình. Thời hạn cấp dưỡng được tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh B phải chịu án phí ly hôn, anh Đào Xuân K phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 và 116 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a, khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh B về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Đào Xuân K.

1.1 Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh B được ly hôn với anh Đào Xuân K (Giấy chứng nhận kết hôn số 78/2000, quyển số 01 ngày 19/10/1992 do Ủy ban nhân dân phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp).

1.2 Về con chung: Giao con chung tên Đào Trà M, sinh ngày 15/12/2012 cho chị Nguyễn Thị Thanh B trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau ly hôn, chị Nguyễn Thị Thanh B và anh Đào Xuân K đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

1.3 Về cấp dưỡng: Buộc anh Đào Xuân K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng, thời hạn cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày người được thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

1.4 Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0040529 ngày 21/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương. Anh Đào Xuân K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ