vanban.org

Bản án 94/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 24/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bốbị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Nguyễn Đức K: 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữtừ ngày 03/05/2019 đến ngày 11/05/2019. 1. Tịch thu tiêu hủy:02 (hai) gói ma túy đã được niêm phong theo kết luận giám định số 2794/KLGĐ – PC09 ngày 11/05/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Duc K - Mua ban trai phep chat ma tuy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bốbị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2019/HS-ST
Ngày: 24- 09 -2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ - TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng; bà Nguyễn Thị Luận

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chƣơng Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 24/9/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2019/TLST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019đối vớibị cáo:

Nguyễn Đức K, sinh năm1987, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Con ông Nguyễn Văn L; con bà: Lại Thị Đ; Vợ: Nguyễn Thị L và 03 con; Danh chỉ bản số 290 lập ngày 05/5/2019 tại Công an huyện Chương Mỹ; Tiền án, tiền sự: không.

Về nhân thân:

- Ngày 01/06/2008, bị Công an xã Đồng Phú ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy (Đã nộp phạt).

- Ngày 29/09/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản (Đã chấp hành xong, được xóa án tích).

- Ngày 09/04/2011, bị Chủ tịch UBND huyện Chương Mỹ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc. Ngày 11/09/2012, Chủ tịch UBND huyện Chương Mỹ ra Quyết định miễn chấp hành thời gian còn lại tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội.

- Ngày 05/01/2015, bị Công an huyện Chương Mỹ xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Xâm phạm sức khỏe của người khác (Đã nộp phạt ngày 07/01/2019).

- Ngày 03/11/2017, bị Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã nộp phạt ngày 07/11/2017).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/05/2019 đến ngày 11/05/2019 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trọng S, sinh năm 1983. Trú tại: xã T, huyện C, Hà Nội. Vắng mă ̣t.

* Ngƣời làm chứng: Anh Trần Văn V, sinh năm 1975. Trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện C, Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/05/2019, Nguyễn Đức K đang ở nhà thì có Nguyễn Trọng S đến nhà gặp và hỏi mua của K 300.000 đồng ma túy tổng hợp dạng đá. K đồng ý bán thì S đưa tiền cho K 300.000 đồng, K cầm tiền và lấy trong người ra 01 túi ma túy tổng hợp dạng đá đưa cho S. Khi S vừa cầm túi ma túy định ra về thì bị lực lượng Công an huyện Chương Mỹ phát hiện bắt quả tang. Quá trình bắt giữ, lực lượng Công an còn phát hiện và thu giữ trên tay phải của K đang cầm 01 túi ma túy tổng hợp dạng đá. Công an huyện Chương Mỹ phát hiện và bắt quả tang, cùng vật chứng gồm có:

- 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (1x2)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá thu giữ trên tay S (niêm phong ký hiệu Mẫu số 01);

- 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (1x2)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá thu giữ trên tay K (niêm phong ký hiệu Mẫu số 02);

- Số tiền 300.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Bản Kết luận giám định số 2794/KLGĐ – PC09 ngày 11/05/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an TP Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,045 gam (Mẫu số 01).

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,142 gam (Mẫu số 02).”

Tại Bản Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 22/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Đức Kvề tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Đức K khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện việc bán ma túy cho Nguyễn Trọng S như nội dung Cáo trạng đã nêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng, với số lượng ma túy bị quy kết bán là 0,187g Methamphetamine. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt: K từ 30 đến 36 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ; tịch thu sung quỹ Nhà nước 300.000 đồng, Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án; khởi tố bị can; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ; về các biện pháp điều tra như: lấy lời khai bị can, lấy lời khai người liên quan, người làm chứng, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định vật chứng thu giữ, thu thập các tài liệu chứng cứ về nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên; không khiếu nại về việc bị Điều tra viên, Kiểm sát viên mớm cung, ép cung, bức cung, nhục hình. Do vậy, các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

Về sự vắng mặt của người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Trọng S, người làm chứng – anh Trần Văn V: Xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người liên quan, người làm chứng, sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

. Về nội dung:

Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Đức K tại phiên tòa, thấy phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/05/2019, tại nhà của Nguyễn Đức K ở Đội 1, thôn H, xã Đ, huyện C, Hà Nội, Nguyễn Đức K đã có hành vi bán trái phép 01 (một) túi ma túy có khối lượng 0,045 gam với giá 300.000 đồng cho Nguyễn Trọng S và cất giữ 01 (một) túi ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,142 gam mục đích để bán, thì bị Công an huyện Chương Mỹ phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Đức K đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Đức K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Trọng S là người nghiện ma túy, có hành vi mua trái phép 0,045 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân ngoài ra không có mục đích nào khác, bản thân S chưa có tiền án và tiền sự về hành vi liên quan đến ma túy. Xét thấy khối lượng ma túy trên không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nên ngày 26/7/2019 Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức “Cảnh cáo” Nguyễn Trọng S là phù hợp.

Hành vi của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân cách con người, dư luận xã hội bất bình lên án. Trước tình hình tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng, Nhà nước ta đã ban hành các chính sách nhằm phổ biến, tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về tác hại của ma túy, đồng thời có biện pháp xử lý rất kiên quyết. Bị cáo K có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do đó cần phải có hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[2.2.] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo K là người có nhân thân xấu, đã bị giáo dục nhiều lần nhưng không chịu sửa chữa cải tạo, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

[2.3.] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối vớibị cáo.

[2.4.] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 02 (hai) gói ma túy đã thu giữ được niêm phong, cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với số tiền300.000 đồng, là số tiền giao dịch vào việc mua bán trái phép chất ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[2.5.] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bốbị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt:

Nguyễn Đức K: 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữtừ ngày 03/05/2019 đến ngày 11/05/2019.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu hủy:02 (hai) gói ma túy đã được niêm phong theo kết luận giám định số 2794/KLGĐ – PC09 ngày 11/05/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an TP Hà Nội.

3.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 (ba trăm ngàn đồng) đã sử dụng vào giao dịch trái pháp luật.

(Toàn bộ số vật chứng, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2019, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ. Số tiền 300.000 đồng hiện đang lưu giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo Giấy nộp tiền ngày 23/8/2019 tại Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh L).

4. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đức K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhậnđược bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ