vanban.org

Bản án 94/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” của bà Hoàng Thị H đối với ông Hồ Thăng L;

[1] Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị H được ly hôn ông Hồ Thăng L [2] Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” của bà Hoàng Thị H đối với ông Hồ Thăng L;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
TP. Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 09-10-2019
V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N TP Đ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Hoan Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Bá Tiến

Bà Huỳnh Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận N, thành phố Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố Đ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2019/TLST-HNGĐ ngày 27/5/2019, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 19/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị H - Sinh năm: 1982 Trú tại: 670 Lê Văn Hiến, quận N, Tp. Đ - Có mặt.

Bị đơn: Ông Hồ Thăng L - Sinh năm: 1977. Trú tại: 670 Lê Văn Hiến, quận N, TP Đ – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hoàng Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông L kết hôn vào năm 2004, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận N, TP Đ. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau tại phường H nhưng đến đầu năm 2015 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường hay cãi nhau dẫn đến sung đột, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Tại phiên tòa, bà yêu cầu HĐXX giải quyết cho bà được ly hôn đối với ông Hồ Thăng L.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Hồ Thị Hoàng V – Sinh ngày 15/6/2002, Hồ Hoàng Cẩm L – Sinh ngày 22/4/2008, Hồ Thăng Nhật K – Sinh ngày 01/7/2014

Ly hôn, bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi con Hồ Thăng Nhật K cho đến khi con đủ 18 tuổi và giao 02 con Hồ Thị Hoàng V và Hồ Hoàng Cẩm L cho ông L nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng cho bên nào.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Không có.

Sau khi nhận được đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị H với nội dung như trên, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về các phiên hòa giải. Tuy nhiên, ông L vẫn cố tình né tránh, không tham gia các phiên hòa giải. Đến ngày 25/9/2019 ông L có gửi đến Tòa án Đơn trình bày có nội dung:

- Về việc ly hôn: Ông đồng ý ly hôn đối với bà Hoàng Thị H.

- Về con chung: Có 03 con chung: Hồ Thị Hoàng V – Sinh ngày 15/6/2002, Hồ Hoàng Cẩm L – Sinh ngày 22/4/2008, Hồ Thăng Nhật K – Sinh ngày 01/7/2014. Ly hôn, ông có nguyện vọng xin được nuôi cả 03 con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, khẳng định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Riêng ông Hồ Thăng L không tuân theo triệu tập của Tòa án, vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên ông phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” của bà Hoàng Thị H đối với ông Hồ Thăng L

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn, ông Hồ Thăng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Thăng L theo thủ tục chung, ông L phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình.

[2] Về nội dung vụ án: Bà Hoàng Thị H và ông Hồ Thăng L kết hôn vào năm 2004, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận N, TP Đ. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L tồn tại nhưng không thực sự hạnh phúc. Bà H cho rằng nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường hay cãi nhau dẫn đến sung đột, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Tại phiên tòa, bà yêu cầu HĐXX giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Thăng L.

Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã động viên bà H về tiếp tục sống chung để cùng nhau nuôi dạy con chung và xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng bà H vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn đối với ông L.

Xét thấy, mâu thuẩn giữa hai vợ chồng đã đến mức không thể hàn gắn được. Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo về phiên hòa giải. Tuy nhiên, ông L vẫn cố tình né tránh, không tham gia các phiên hòa giải và đã vắng mặt hai lần liên tiếp tại phiên tòa, điều đó chứng tỏ ông L không có thiện chí níu kéo mối quan hệ hôn nhân của mình và mâu thuẩn giữa hai vợ chồng đã đến mức không thể hàn gắn được. Do đó, HĐXX xét thấy cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho bà H được ly hôn với ông L là thỏa đáng.

Về con chung: Bà H và ông L có 03 con chung: Hồ Thị Hoàng V– Sinh ngày 15/6/2002; Hồ Hoàng Cẩm L – Sinh ngày 22/4/2008; Hồ Thăng Nhật K – Sinh ngày 01/7/2014.

Ly hôn, bà H có nguyện vọng trực tiếp nuôi con Hồ Thăng Nhật K và giao 02 con Hồ Thị Hoàng V và Hồ Hoàng Cẩm L cho ông L nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, không bên nào cấp dưỡng nuôi con chung. Ông L có nguyện vọng nuôi tất cả 03 con.

Xét nguyện vọng xin được nuôi con của bà H và ông L thì thấy: Việc trông nom, nuôi dưỡng giáo dục con phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển thể chất và tinh thần cho con. Trong quá trình giải quyết vụ án ông L đã được tòa án triệu tập nhiều lần ông vẫn né tránh, nhưng ông có gửi đến Tòa án bản trình bày có nguyện vọng xin được nuôi tất cả ba con. Hiện nay, cháu Khoa còn nhỏ và hai cháu V và L có nguyện vọng xin được ở với ba, nên HĐXX xét thấy cần giao cháu Khoa cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và giao hai cháu V và L cho ông L nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định của pháp luật. Không có ai có yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung: Bà H trình bày tài sản chung các bên tự thỏa thuận, ông L trình bày không có tài sản chung, nên HĐXX không đề cập đến, sau này có phát sinh tranh chấp giữa các đương sự về tài sản sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về nợ chung: Không có

Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Hoàng Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 147, 227, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” của bà Hoàng Thị H đối với ông Hồ Thăng L;

Tuyên xử:

[1] Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị H được ly hôn ông Hồ Thăng L

[2] Về con chung:

Giao con Hồ Thị Hoàng V – Sinh ngày 15/6/2002; Hồ Hoàng Cẩm L – Sinh ngày 22 tháng 4 năm 2008 cho ông L nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; giao con Hồ Thăng Nhật K cho bà H nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

Ly hôn, các bên có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

[3] Về tài sản chung: Không đề cập đến.

[4] Về nợ chung: không có.

[5] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Hoàng Thị H phải chịu. Nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 9571 ngày 24/5/2019, tại cơ quan Thi hành án dân sự quận N,TP Đ.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc nhận được bản sao án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- Đương sự

- Chi cục THADS quận N,

- VKSND quận N;

- Lưu hồ sơ.

Trần Công Hoan

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ