vanban.org

Bản án 94/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/05/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2019/DS-PT
Ngày: 13-5-2019
V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất (lối đi)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Văn Minh

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thành Trung

Ông Nguyễn Văn Huỳnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chữ Cần – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh ình ương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – i m sát vi n.

Vào các ngày 06 và 13 tháng 5 năm 2019, tại trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, t ử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 237/2018/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” (lối đi).

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2018/DS-ST ngày 21-8-2018 của Tòa án nhân dân thị ã T , tỉnh Bình Dương ị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử phúc thẩm số 264/2019/QĐPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 313 tổ 20, khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1984; địa chỉ li n lạc: Công ty luật B tầng 19, tòa nhà B, 230 Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền của nguy n đơn (tại văn ản ủy quyền ngày 08/02/2018), có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1933; địa chỉ: Số 311 tổ 19, khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông L Đình Ch, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 311 tổ 19, khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền của ị đơn (tại văn ản ủy quyền ngày 06/3/2018), có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L: Ông Nguyễn Văn T - Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà L Thị Th1, sinh năm 1970; địa chỉ: Số 311 khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương.

2. Ông L Đình T, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp An Bình, ã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của à Th1, ông T: Ông L Đình Ch, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 311 khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương (tại văn ản ủy quyền ngày 06/3/2018), có mặt.

3. Bà L Thị S, sinh năm 1957; địa chỉ: Số 311, khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của à S: Ông L Đình Ch, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 311 khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương (tại văn ản ủy quyền ngày 07/02/2018), có mặt.

4. Ông L Đình Ch, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 311 khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

5. Bà Phạm Thị B, sinh năm 1940; địa chỉ: Số 313 tổ 20, khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của Bà B: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1984; địa chỉ li n lạc: Công ty luật B tầng 19, tòa nhà B, 230 Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (tại văn ản ủy quyền ngày 05/3/2018), có mặt.

6. Bà Phạm Thị Th2, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 313 tổ 20, khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị t ử vắng mặt.

7. Ông L Đình S2, sinh năm 1961; địa chỉ: Số 311 khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị t ử vắng mặt.

8. Ông L Đình H, sinh năm 1966;

9. Ông L Đình Th3, sinh năm 1964;

10. Chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1999;

Cùng địa chỉ: Số 311 khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương, đều có đơn đề nghị t ử vắng mặt.

11. Cháu Nguyễn Thanh Tr, sinh ngày 22/8/2003

12. Cháu Nguyễn Hoài Ph, sinh ngày 21/10/2008;

Cùng địa chỉ: Số 313 tổ 20, khu phố Th, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Tr và cháu Ph: Ông Nguyễn Phước B, sinh năm 1976 và à Phạm Thị Th2, sinh năm 1984; cùng địa chỉ: Số 313 tổ 20, khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương, bà Th2 có đơn đề nghị t ử vắng mặt.

13. Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội; trụ s chính: 21 C, phường C, quận Đ, Thành phố H. Người đại diện hợp pháp: Bà Mai Thùy D, sinh năm 1986; địa chỉ: Phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (tại văn ản ủy quyền ngày 11/6/2018), có đơn đề nghị t ử vắng mặt.

14. Ủy an nhân dân thị ã T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị t ử vắng mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn – ông Nguyễn Phước B.

NỘI D NG V ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 25/11/2015, đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/7/2016, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Phước B là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 53, tờ ản đồ số 160 (C324), diện tích 143,5m2, tọa lạc tại khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền s hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CH 03273/AT do Ủy an nhân dân thị ã T , tỉnh Bình Dương cấp ngày 31/12/2013. Nguồn gốc đất là của à nội ông B là cụ Từ Thị B2 đ lại cho cha, mẹ ông B là bà ông Nguyễn Văn H (đã chết) và à Phạm Thị B (còn sống). Bà B được Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất số 343/GCN/2004 ngày 10/5/2004. Năm 2013 Bà B giao cho ông B quản lý, sử dụng đất và đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đổi t n chủ sử dụng từ Bà B sang ông B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền s hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CH 03273/AT ngày 31/12/2013 do Ủy ban nhân dân thị ã T cấp).

Phần đất gia đình bà L đang và đất đường đi ông B đang tranh chấp với bà L đều thuộc trích lục địa ộ trước 1975 do cụ Từ Thị B đứng t n và cho gia đình bà L nhờ, tr n đất có căn nhà cấp 4 diện tích 45 m2, nay theo ản đồ địa chính phường A thì đất thuộc thửa 51. Năm 1977, Bà B bán cho bà L phần đất và căn nhà cấp 4 mà gia đình bà L nhờ. Giấy tờ mua án n Bà B không giữ, còn bên bà L nghe nói đã nộp cho cơ quan chuy n môn khi làm thủ tục in cấp quyền sử dụng đất này. Ông B không ác định được diện tích cụ th Bà B bán cho bà L ghi trong giấy tờ là ao nhi u m2, nhưng ông nghe Bà B k lại diện tích căn nhà án cho bà L là 45 m2, còn diện tích lối đi đang tranh chấp không thuộc phạm vi nhà, đất 45 m2 Bà B bán cho bà L, đây là lối đi chung cụ B và tiếp theo là Bà B chừa làm lối đi của gia đình Bà B, bà L và vài hộ dân đ ra đường T, thị trấn A (nay là phường A); phần đất này cũng th hiện rõ trong Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất của Bà B do Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương cấp cho à Phạm Thị B số 343/GCN/2004 ngày 10/5/2004 là đường đi nội ộ.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03273/AT ngày 31/12/2013 do Ủy an nhân dân thị ã T cấp cho ông B cũng th hiện phần đất tranh chấp là đường đi nội ộ, diện tích đo đạc thực tế là 7,6m2 thuộc thửa 51 ản đồ địa chính phường A. Việc bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng luôn cả diện tích đường đi này trong tổng diện tích đất Ủy an nhân dân thị ã T đã công nhận cho bà L là 65.2 m2 (theo kết quả đo đạc thực tế là 65,9m2) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 33 QSDĐ/TTAT do Ủy an nhân dân huyện T cấp ngày 13/5/1998 cho bà L là do bà L in cấp giấy chứng nhận đại trà và có sự l n lút. Năm 2015 bà L có hành vi ây tường gạch chắn lối đi này, nên ông B kh i kiện y u cầu bà L phải chấm dứt hành vi ây dựng ít lối đi chung trả lại lối đi như hiện trạng an đầu diện tích 7,6 m2.

- Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị L là chủ sử dụng đất hợp pháp diện tích 65,2m2 (diện tích đo đạc thực tế là 65,9m2), thuộc thửa số 51 tờ ản đồ C324 tọa lạc tại khu phố T, phường A, thị ã T, đất có tứ cận như sau: phía Đông giáp đường vô xóm 4m; phía Tây giáp đất bà Huệ 8,5m; phía Nam giáp đất Bà B 13m, phía Bắc giáp đường T 2m + 4m + 11m.

Về nguồn gốc khu đất và quá trình quản lý, sử dụng: Từ năm 1953 đến năm 1977, bà L thuê nhà, đất của cụ Từ Thị B (là à nội của nguy n đơn). Năm 1977, su khi ông H và Bà B thừa hư ng nhà, đất của cụ B đã chuy n nhượng phần đất 65,5m2 và tr n đất có căn nhà ngói cho bà L.

Ngày 25/11/1993, Phòng Nông Lâm thủy huyện T (nay là thị ã T) lập Tờ trình số 1255/TT/ĐĐ về việc giao diện tích đất 65,5m2 cho bà L. Ngày 06/12/1993, Ủy an nhân dân huyện T an hành Quyết định số 1255/QĐ/UB về việc giao đất và thu hồi đất, có nội dung Ủy an nhân dân huyện T thu hồi khu đất có diện tích đất 65,5m2 của à Phạm Thị B duyệt giao cho bà L là người sử dụng hợp pháp vào mục đích đất thổ cư.

Ngày 06/12/1993, bà L được Ủy an nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01538/GCN-SB (số ìa trắng), diện tích là 65,5m2, loại đất , ao gồm cả diện tích lối đi tranh chấp.

Ngày 13/12/1993, S ây dựng tỉnh Sông B (nay là tỉnh Bình Dương) cấp giấy công nhận quyền s hữu nhà đối với căn nhà 45m2, tọa lạc tr n phần đất thổ cư của gia đình bà L với diện tích 66m2. Ngày 05/4/2000, Ủy an nhân dân huyện T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L, diện tích 65,2m2. ết quả đo đạc th hiện tr n ản vẽ đất tranh chấp ngày 17/6/2016, th hiện đất bà L sử dụng và lối đi tranh chấp có tổng diện tích là 65,9m2, có chênh lệch diện tích nhưng không lớn so với diện tích ghi tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà L được cấp vào các năm 1993, 1998, 2000; thông tin của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã T cũng ác định 7,6m2 đất tranh chấp đã cấp cho bà L vào các năm 1993,1998, 2000.

Việc cung cấp thông tin của phường A cũng ác định không có tài liệu nào ác định phần đất tranh chấp là lối đi chung và đồng thời là lối thoát hi m.

Bản đồ địa chính chính quy năm 1995 và 2000 cũng th hiện không có lối đi chung như nguy n đơn trình ày. Nhưng khi Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bà B lại ác định lối đi chung, trong khi thực tế căn nhà gia đình nguy n đơn đang tiếp giáp mặt tiền đường C; mặt khác, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bà B không được bà L ký liên ranh ác định lối đi chung; sơ đồ bản vẽ nhà, đất Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương cấp cho Bà B th hiện hướng tây giáp lối đi chung tranh chấp, thực tế cạnh phía tây nhà Bà B không giáp lối đi chung nào là có mâu thuẫn. Vì vậy, có căn cứ đ n ị đơn ác định việc Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bà B là sai sót, n n khi Ủy an nhân dân thị ã T cấp lại cho ông B cũng sai sót theo. Năm 2006, bà L ây dựng lại nhà, m cửa ra phía phần đất trống nguy n đơn tranh chấp, phần tr n không gian thì bà L cho ây dựng lan can tầng 1, tầng 2. Việc ây dựng này bà L có báo cho Bà B iết, nhưng Bà B không có ý kiến gì phản đối. Việc bà L sử dụng phần đất diện tích 7,6 m2 là hợp pháp, n n không chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị B (mẹ nguyên đơn) ủy quyền cho nguyên đơn là ông Nguyễn Phước B đại diện: Thống nhất toàn ộ lời trình ày và y u cầu kh i kiện của nguy n đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Th2 (vợ nguyên đơn) trình bày: Thống nhất với trình ày của ông B, bà Th2 không có y u cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh Tr, Nguyễn Hoài Ph (do ông Nguyễn Phước B, bà Phạm Thị Th2 đại diện) trình bày: Cháu Tr, cháu Ph là con ông B, bà Th2 và hiện nay cùng cha mẹ, các cháu không có y u cầu gì trong vụ án, mọi việc do cha, mẹ quyết định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình S2 trình bày: Ông Sáng là con của ị đơn, thống nhất toàn ộ ý kiến và trình ày của người đại diện hợp pháp của ị đơn và không có y u cầu độc lập gì trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình Th3, ông Lê Đình H, bà Nguyễn Thị Ngọc B thống nhất trình bày: Các ông, bà là con, cháu của ị đơn, thống nhất với toàn ộ ý kiến và trình ày của bên ị đơn, không có y u cầu độc lập gì trong vụ án.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình Ch, bà Lê Thị Th1, bà Lê Thị S và ông Lê Đình T (bà Th1, bà S, ông T do ông Ch đại diện) thống nhất trình bày: Thống nhất với trình ày và ý kiến của ị đơn và người đại diện hợp pháp của ị đơn, không có y u cầu độc lập gì trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị xã T có ý kiến bằng văn bản như sau: Nguồn gốc quyền sử dụng đất của à Nguyễn Thị L là do nhận chuy n nhượng của à Phạm Thị B năm 1977 theo Quyết định số 1255/QĐ/UB ngày 06/12/1993 của Ủy an nhân dân huyện T về việc giao đất và thu hồi đất. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01538 ngày 06/12/1993 cho bà Nguyễn Thị L là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận không có giấy tờ sang nhượng đất giữa bà L và Bà B. Đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03273/AT ngày 31/12/2013 cho ông Nguyễn Phước B là tr n cơ s Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP, kết quả thẩm tra hồ sơ của Văn phòng Đăng ký đất đai n n việc cấp Giấy chứng nhận là đúng trình tự thủ tục theo quy định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội do bà Mai Thùy Dung đại diện trình bày: Ngày 25/02/2016, ông Nguyễn Phước B, bà Phạm Thị Th2 và Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 53 tờ ản đồ 160, tọa lạc tại khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương đ ảo đảm cho khoản vay của Công ty TNHH thương mại, dịch vụ H. Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Phước B và bà Nguyễn Thị L không ảnh hư ng đến hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông B, bà Th2 nên không có y u cầu độc lập trong vụ án.

- Người làm chứng bà Nguyễn Thị Bích H trình bày: Bà H là chị của ông B, là con của ông Nguyễn Văn H, à Phạm Thị B. Phần đất bà L đang sử dụng có nguồn gốc là nhận chuy n nhượng của à Phạm Thị B nhưng không iết thời gian chuy n nhượng, không iết diện tích chuy n nhượng cụ th , ri ng phần đất tranh chấp giữa ông B và bà L hình thành từ trước năm 1975, được sử dụng làm đường thoát hi m cho Bà B và bà L. Hiện nay, bà L đã ây móng n n không ai sử dụng được. Bà B, ông B và bà L đều đã có lối đi khác.

Người làm chứng bà Huỳnh Thị H, ông Nguyễn Thế H, ông Lê Văn V trình bày: Bà Huệ, ông Hùng, ông Vàng là hàng xóm láng giềng quen iết với cả ông B và bà L. Phần đất bà L đang sử dụng có nguồn gốc nhận chuy n nhượng của bà Phạm Thị B, nhưng không iết thời gian chuy n nhượng, không iết diện tích chuy n nhượng cụ th ; ri ng phần đất tranh chấp giữa ông B và bà L hình thành từ trước năm 1975, được sử dụng làm đường thoát hi m cho gia đình Bà B và bà L, chứ không phải là lối đi thường uy n. Từ ưa đến nay, ông B có lối đi ra đường C, còn bà L có lối đi ra đường T.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị U trình bày: Bà M, bà U là cô của ông B, đối với bà L thì các bà không có mối quan hệ thân thích mà chỉ là hàng xóm, láng giềng. Phần đất tranh chấp giữa ông B và bà L hình thành từ trước năm 1975, được sử dụng làm đường thoát hi m cho gia đình Bà B và bà L, chứ không phải là lối đi thường uy n. Từ ưa đến nay, ông B có lối đi ra đường C, còn bà L có lối đi ra đường T. Hiện nay, bà L đã ây móng n n không ai sử dụng phần đất tranh chấp.

Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2018/DS-ST ngày 21-8-2018 của Tòa án nhân dân thị ã T đã quyết định:

hông chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn ông Nguyễn Phước B đối với ị đơn à Nguyễn Thị L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất (lối đi) y u cần bà L chấm dứt hành vi ây dựng ít lối đi chung trả lại lối đi diện tích 7,6 m2 thuộc thửa số 51 tờ ản đồ C324 tọa lạc tại khu phố T, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương.

iến nghị Ủy an nhân dân thị ã T thu hồi giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền s hữu nhà và tài sản gắn liền với số CH 03273/AT ngày 31/12/2013 do Ủy an nhân dân thị ã T cấp cho ông Nguyễn Phước B đ điều chỉnh lại cạnh phía Tây giáp đất bà L chứ không giáp lối đi chung (sơ đồ ản vẽ kèm theo).

Ngoài ra ản án còn tuy n về chi phí giám định, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi t ử sơ thẩm, ị đơn ông Nguyễn Phước B kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩm, y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm t ử theo hướng không chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn.

Tại phi n tòa phúc thẩm: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn P giữ nguy n y u cầu kh i kiện và y u cầu kháng cáo, cho rằng năm 1977, ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị B (là cha mẹ của nguy n đơn) chỉ chuy n nhượng cho ị đơn quyền sử dụng đất và căn nhà gắn liền với đất là 45m2. Ngôi nhà này trước đây là nhà kho của nguy n đơn. Đối với phần diện tích đất đi từ cửa sau của nguy n đơn ra hướng đường T thì Bà B, ông H không chuy n nhượng cho ị đơn mà dùng làm lối đi chợ và lối thoát hi m. Lối đi nội ộ n u tr n đã được ghi nhận tại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 343 do UBND tỉnh Bình Dương cấp ngày 10/5/2004 cho à Phạm Thị B. Năm 2006, giữa gia đình bà L và gia đình Bà B có phát sinh tranh chấp về lối đi này và đã được UBND xã A (nay là phường A) hòa giải. Tại i n ản hòa giải, gia đình bà L đã thừa nhận, ác định phần diện tích tranh chấp là lối đi chung chứ không phải nằm trong quyền sử dụng đất của bà L. Đề nghị Hội đồng t ử chấp nhận y u cầu kháng cáo của ị đơn, sửa ản án sơ thẩm uộc à Nguyễn Thị L chấm dứt hành vi ây dựng, cản tr việc sử dụng lối đi chung đối với hộ ông Nguyễn Phước B; đồng thời hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị L đ điều chỉnh cho phù hợp. Đại diện ị đơn không chấp nhận y u cầu kh i kiện và y u cầu kháng cáo của nguy n đơn; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ị đơn – ông Nguyễn Văn T trình bày: Không chấp nhận y u cầu kh i kiện cũng như kháng cáo của nguy n đơn, i lẽ: Bản vẽ th hiện đường gạch là chỉ giới ây dựng không ảnh hư ng đến việc cấp đất, thửa 51 trong đó có phần đất trống chưa ây dựng là 7,6m2 không th hiện là lối đi; việc nguy n đơn cho là lối đi trong giấy chứng nhận của nguy n đơn không giáp bà L nên khi nguy n đơn in cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không cần ký giáp ranh là không phù hợp; thực tế thửa 53 và 51 có giáp ranh do đó nguy n đơn trình ày vấn đề này là không đúng. Bản án sơ thẩm của Thuận An đã t ử đúng quy định, thấu tình, đạt lý. Đề nghị Hội đồng t ử không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ị đơn, giữ nguyên ản án sơ thẩm.

Đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát i u ý kiến: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phi n tòa phúc thẩm. Về nội dung: Tại i n ản hòa giải ngày 05/7/2018 tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn thừa nhận phần đất 7,6 m2 là thuộc quyền quản lý, sử dụng, định đoạt của hộ à Nguyễn Thị L. Tuy nhiên, vì tình cảm anh em n n ông B muốn hỗ trợ số tiền 20.000.000 đồng đ ị đơn sửa đường đi nội ộ cho mẹ ông B là Phạm Thị B đi đến hết đời, sau đó thì ị đơn được ít đường đi…ông B đi điều chỉnh giấy chứng quyền sử dụng đất cho phù hợp với thực tế. Sự thừa nhận của nguy n đơn là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. UBND phường A cho rằng căn cứ đ ác định phần đất tranh chấp là lối đi chung do dựa vào việc trổ cửa của hộ ông B là không đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng t ử em t và kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng tại phi n tòa, nhận thấy y u cầu kháng cáo của nguy n đơn không có căn cứ, đề nghị Hội đồng t ử không chấp nhận toàn ộ y u cầu kháng cáo của nguy n đơn, giữ nguy n ản án sơ thẩm.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghi n cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được thẩm tra tại phi n tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phi n tòa, t thấy:

Về tố tụng:

[1] Vụ án có kháng cáo của nguy n đơn là ông Nguyễn Phước B, đơn kháng cáo trong thời hạn luật định là hợp lệ, n n được t ử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm ác định các vấn đề về tố tụng như quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ việc của Tòa án; việc t ử vắng mặt các đơn sự và người làm chứng có đơn đề nghị t ử vắng mặt đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] X t nội dung tranh chấp, thấy rằng: B n nguy n đơn và n ị đơn đều có ý kiến thống nhất với nhau về nguồn gốc đất ị đơn đang sử dụng, k cả diện tích đất 7,6 m2 đang tranh chấp là do cha mẹ của nguy n đơn là ông Nguyễn Văn Huy (đã chết) và à Phạm Thị B (còn sống). Ông H, Bà B chuy n nhượng cho bà L vào năm 1977, trước năm 1975 cụ Từ Thị B (mẹ của Ông H, tức là à nội của nguy n đơn) là chủ s hữu nhà và đất cho gia đình bà L nhờ. Theo n ị đơn ác định thì bị đơn (bà L) thu nhà, đất của cụ Từ Thị B đ từ năm 1953, đến năm 1977 khi Ông H, Bà B thừa hư ng nhà đất của cụ B thì chuy n sang mua cả nhà và đất từ Ông H, Bà B. Việc mua án nhà, đất có lập thành văn ản. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì những tình này thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh (nguy n đơn, ị đơn thừa nhận lời khai của nhau).

[4] Những tình tiết đương sự không thống nhất với nhau là: Nguy n đơn ác định Ông H, Bà B bán cho ị đơn một căn nhà ngói cấp 4 gắn liền với phần đất 45 m2, giấy tờ mua án chỉ lập 1 tờ giao cho ị đơn cất giữ, khi ị đơn làm thủ tục hợp thức hóa nhà đất đã nộp cho cơ quan chuy n môn về nhà, đất của UBND huyện T (nay là UBND thị ã T ); diện tích đất chuy n nhượng n u trên không ao gồm diện tích đất 7,6 m2 đang tranh chấp, vì đây là đường đi chung do cụ B chừa ra và sau này Ông H, Bà B cũng chừa làm đi chung ra đường T cho gần, trong đó có gia đình ị đơn sử dụng chứ không án cho ị đơn. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ị đơn được cấp quyền sử dụng diện tích 65,2 m2 (đo đạc thực tế là 65,9 m2); phần hơn 10 m2 dư ra là phần đất có giếng nước của cụ B (cho nhiều người dùng chung, nhưng sau này ị đơn làm nhà đã lấp giếng đ làm nền nhà như hiện nay (vị trí giếng nước hướng ắc nhà ị đơn, từ ngoài nhìn đường T vào thì

n trái) và phần đất cụ B, Ông H, Bà B chừa làm lối đi hoặc lối thoát hi m có diện tích đất 7,6 m2 (vị trí lối đi hướng nam nhà ị đơn, từ ngoài đường T vào thì

n phải). Bị đơn khi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã k khai in cấp luôn diện tích đất lối đi này. Tuy nhi n, n nguy n đơn không có chứng cứ gì chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ và hợp pháp. Nguy n đơn cũng không lý giải được việc ị đơn làm nền nhà tr n phần diện tích giếng nước là chiếm dụng đất và nguy n đơn không có khiếu nại hay sự cản tr về việc này.

[5] Bị đơn ác định giấy tờ mua án đất đã nộp cho Phòng Nông Lâm Thủy huyện T (nay là thị ã T ) khi làm thủ tục in cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhi n, Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ, nhưng không có giấy tờ mua án đất giữa hai n. Theo y u cầu của đại diện hợp pháp của nguy n đơn, Tòa án cấp phúc thẩm đã trực tiếp ác minh, tiếp cận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ị đơn lưu tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị ã T cũng không thấy trong hồ sơ có chứng cứ này; tài liệu lưu trữ thì phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do các đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập.

[6] Vấn đề cần em t là: Diện tích đất hai n thỏa thuận khi giao kết mua án nhà, đất thực tế là ao nhi u m2. X t thấy, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ th hiện ngày 25/11/1993, Phòng Nông Lâm thủy huyện T lập Tờ trình số 1255/TT/ĐĐ về việc giao diện tích đất 65,5m2 cho ị đơn.

Ngày 06/12/1993, Ủy an nhân dân huyện T an hành Quyết định số 1255/QĐ/UB về việc giao đất và thu hồi đất, nội dung là Ủy an nhân dân huyện T thu hồi khu đất có diện tích đất 65,5m2 của à Phạm Thị B duyệt giao cho ị đơn là người sử dụng (đất ).

Ngày 06/12/1993, ị đơn được Ủy an nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01538/GCN-SB (sổ ìa trắng) diện tích đất (thổ cư ) là 65,5m2, diện tích này đã ao gồm đất lối đi đang tranh chấp.

Ngày 13/12/1993, S ây dựng tỉnh Sông B (nay là tỉnh Bình Dương) cấp Giấy công nhận quyền s hữu nhà đối với căn nhà 45m2, tọa lạc tr n phần đất thổ cư của gia đình ị đơn, diện tích 66m2.

Ngày 05/4/2000, Ủy an nhân dân huyện T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ị đơn, diện tích 65,2m2.

[7] Nhận thấy, việc Ủy an nhân dân thị ã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CH03273/AT ngày 31/12/2013 cho nguy n đơn tr n cơ s hồ sơ Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất số 343/GCN/2004 ngày 10/5/2004 cho Bà B. Tòa án cấp phúc thẩm đã thu thập ổ sung được chứng cứ này do S ây dựng tỉnh Bình Dương (thực hiện sự ủy quyền của Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương) cung cấp; trong hồ sơ có sơ đồ trích thửa nhà đất ngày 20/1/2003 th hiện vị trí đất đang tranh cấp là đường đi nội ộ dùng chung cho 3 hộ giáp đường 1,8m; căn cứ ác định đường nội ộ là i n ản ác minh ngày 26/9/2002 có ác nhận của UBND thị trấn A. Tòa án cấp phúc thẩm ác minh tại Ủy an nhân dân phường A đ làm rõ đường đi chung 3 hộ là ai, kết quả là Ủy an nhân dân phường A ác định 3 hộ giáp đường là hộ chủ sử dụng thửa đất 45, 47 và 51 (hộ ị đơn); hộ Bà B có trổ cửa ra lối đi này.

[8] ết quả đo đạc do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành th hiện tại Mảnh trích đo, chỉnh lý địa chính số 160 – 2018 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đai thị ã T lập, ký ác nhận ngày 26/3/2018 (BL 519, 572) th hiện thông tin về thửa đất như sau: Tổng diện tích thửa đất 51 ị đơn đang sử dụng là 58,3m2; hiện trạng sử dụng là nhà và đất trống; diện tích lầu 1 thuộc không gian lối đi tranh chấp 1,7m2, diện tích lầu 1 thuộc không gian lối đi tranh chấp 4,4m2.

[9] Đối chiếu sơ đồ trích thửa nhà đất ngày 20/1/2003 do S ây dựng tỉnh Bình Dương cung cấp với hiện trạng đất các n sử dụng và đất lối đi đang tranh chấp, nhận thấy phần đất 7,6 m2 nguy n đơn đang tranh chấp là một phần lối đi từ nhà Bà B (nay là nhà ị đơn) ra đường T, thị trấn A; (lối đi cũ dài 8,4 m, nay là 4,89 m); khi đường T chưa được cải tạo m rộng thì nhà ị đơn không tiếp giáp đường T, vì trước nhà ị đơn là thửa đất 47 giáp đường. Vì vậy, đây là lối đi duy nhất từ nhà ị đơn ra đường T. Sau khi m rộng đường T thì thửa 47 ị giải tỏa toàn ộ, đồng thời một phần lối đi (phần tiếp giáp đường) từ nhà ị đơn ra cũng ị giải tỏa (đất thuộc hành lang an toàn đường ộ n n Nhà nước không đền ù), còn lại một phần đường n trong tạo thành khoảng sân nhà ị đơn như hiện nay (nguy n đơn đang tranh chấp). Tại phi n tòa phúc thẩm, nguy n đơn ác định căn nhà cấp 4 trước đây có diện tích 45 m2 là nhà của Ông H, Bà B; từ nhà này có lối ra đường T, còn nhà của gia đình nguy n đơn hiện nay (thuộc thửa đất 53) là vị trí nhà kho ngày ưa của cụ B (sau này là Ông H, Bà B và nay là nguy n đơn thừa hư ng) tiếp giáp đường ĐT 745 (nay là đường C, phường A).

[10] ết quả Tòa án cấp phúc thẩm em t, thẩm định tại chỗ ổ sung ác định tại vị trí ếp và phòng ăn nhà nguy n đơn có m cửa đi hai cánh hướng ra phần đất lối đi đang tranh chấp, nhưng cửa trong tình trạng đóng, nền nhà nguy n đơn cao hơn nền đất tranh chấp khoảng 1 m t và không có ậc l n uống. Nguy n đơn lý giải việc này là do ị đơn không cho nguy n đơn ây dựng và sử dụng lối đi này. Nhà ị đơn có ây móng, ậc thềm ra đất đang tranh chấp; lan can tầng 1, tầng 2 (kết cấu tông cốt th p) thuộc một phần không gian đất tranh chấp.

[11] Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, tại phi n đối chất ngày 05/7/2019, nguy n đơn và Bà B có ý kiến giống nhau là không rõ diện tích đất chuy n nhượng cho ị đơn là ao nhi u và cũng không nhớ số tiền, vì Ông H là người trực tiếp giao dịch với n ị đơn. B n ị đơn ác định số tiền mua nhà, đất là 200 ngàn đồng, ị đơn giao tiền cho Ông H. Nguy n đơn trình ày “Nay tôi thống nhất diện tích đất 7,6 m2 tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng, định đoạt của hộ bà Nguyễn Thị L.... tôi mong muốn hỗ số tiền 20.000.000 đồng để phía bị đơn sửa đường đi nội bộ cho mẹ tôi bà Phạm Thị B đi hết đời. Sau đó, hết đời mẹ tôi thì bị đơn bít đường đi. Hiện nay tôi đồng ý cho bị đơn giữ nguyên sổ, tôi đi điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi cho phù hợp với thực tế” ( út lục 529). Bà B trình bày “Mong muốn phía bà L tạo điều kiện để mở lối đi nội bộ. Mong muốn bà L làm phước cho con chấu đời sau...” (bút lục 533).

[12] Như vậy, không có chứng cứ gì ằng văn ản giữa hai n chứng minh Ông H, Bà B chuy n nhượng ( án nhà, đất) cho n ị đơn diện tích là 45 m2 như lời khai của n nguy n đơn hay 65,5 m2 như lời khai của n ị đơn. Tuy nhi n, t nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất, hiện trạng nhà, đất của hai bên có đủ căn cứ khẳng định căn nhà cấp 4 diện tích 45 m2 và toàn ộ diện tích đất hiện nay ị đơn đang quản lý sử dụng (k cả phần đất đang tranh chấp) là một phần nhà, đất của cụ Từ Thị B. Sau khi Ông H, Bà B được thừa hư ng tài sản này đã chuy n nhượng ( án nhà và đất) cho ị đơn, k cả phần đất làm lối ra đường T, phường A; đã tách iệt với phần nhà, đất tiếp giáp đường C, phường A của Bà B (phần không án) hiện nay nguy n đơn s hữu.

[13] Về ý kiến của cơ quan Nhà nước:

Ủy ban nhân dân thị xã T có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án cấp sơ thẩm như sau: Nguồn gốc quyền sử dụng đất của à Nguyễn Thị L là do nhận chuy n nhượng của à Phạm Thị B năm 1977 theo Quyết định số 1255/QĐ/UB ngày 06/12/1993 của Ủy an nhân dân huyện T về việc giao đất và thu hồi đất. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01538 ngày 06/12/1993 cho bà Nguyễn Thị L là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận không có giấy tờ sang nhượng đất giữa bà L và Bà B. Đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03273/AT ngày 31/12/2013 cho ông Nguyễn Phước B là tr n cơ s Luật Đất đai năm 2003.

[13.1] Tại văn ản số 3462/UBND-NC ngày 22/11/2018, Ủy ban nhân dân thị ã T gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm ác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03273/AT ngày 31/12/2013 cấp cho nguy n đơn th hiện đường đi 1,5m hướng ra đường T căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất số 343/GCN/2004 do Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương cấp cho à Phạm Thị B ngày 10/5/2004.

[13.2] ết quả ác minh của Tòa án cấp sơ thẩm th hiện: Bi n ản ác minh ngày 22/4/2017 và i n ản ngày 10/7/2018 tại Ủy an nhân dân phường A, thị ã T thì phần đất tranh chấp không th hiện là đường đi hay lối thoát hi m mà thuộc quyền sử dụng của ị đơn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc Ủy an nhân dân có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho Bà B, ông B là cấp theo diện đại trà, gia đình ị đơn không iết, thực chất phần đất này là của ị đơn. Tr n ản đồ địa chính chính quy năm 1995 và ản đồ địa chính chính quy năm 2005 của phường A không th hiện phần đất này là lối đi chung hay đường thoát hi m.

[13.3] Theo i n ản ác minh ngày 19/4/2017 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị ã T thì đất tranh chấp diện tích 7,6 m2 nằm trong diện tích 65,5m2, thuộc thửa số 51 tờ ản đồ C324 tọa lạc tại khu phố T, phường A, thị ã T đã được Ủy an nhân dân huyện T (nay là thị ã T ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01538/GCN-SB ngày 06/12/1993 và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 33 QSDĐ/AT ngày 13/5/1998 (cấp lại giấy chứng nhận ngày 05/4/2000) cho hộ gia đình ị đơn.

[14] X t thấy, sơ đồ vị trí và diện tích đất lối đi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương cấp cho Bà B trước đây và sơ đồ vị trí đất tranh chấp Ủy an nhân dân thị ã T cấp cho nguy n đơn năm 2013 là không phù hợp với nhau. Hình th , vị trí thửa đất số 51 ị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua a lần cấp đổi (vào các năm 1998, 2000 và năm 2003) là phù hợp với nhau và đúng hiện trạng, ri ng diện tích đo đạc thực tế hiện nay là 65,9 m2 (ch nh lệch 0,07 m2) là sai số chấp nhận được trong đo đạc đất đai và diện tích tăng th m này không làm thay đổi ản chất vụ việc.

[15] X t lời khai của người làm chứng là người thân trong gia đình nguy n đơn, tương tự như lời khai nguy n đơn và không phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, n n không có giá trị chứng minh. Lời khai của những người làm chứng là hàng óm, láng giềng với nguy n đơn và ị đơn ác định lối đi nguy n đơn đang tranh chấp không phải là lối đi thường uy n; nhà nguyên đơn từ trước đến nay sử dụng lối đi ra đường C là phù hợp với thực tế khách quan.

[16] Bị đơn đã sử dụng đất ổn định, lâu dài từ năm 1977 đến nay, có đăng ký k khai đầy đủ và được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Mặt khác, giả thiết lời khai của nguy n đơn là đúng, nghĩa là Ông H, Bà B chỉ án cho ị đơn căn nhà và đất 45 m2 thì phần đất đang tranh chấp ị đơn cũng đủ điều kiện “ ác lập quyền s hữu theo thời hiệu...” theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự.

[17] Đã có căn cứ khẳng định nguy n đơn không có căn cứ ác lập quyền sử dụng đất lối đi đang tranh chấp theo quy định của pháp luật về đất đai; cũng không có căn cứ ác định đất này là lối đi chung hoặc lối thoát hi m; đất của nguy n đơn trước đây cũng như hiện nay không ị vây ọc i các ất động sản liền kề, và lối đi này gia đình nguy n đơn không được ị đơn cho sử dụng và không phải là lối đi thuận tiện. Nguy n đơn chừa cửa nhà hướng ra lối đi tranh chấp là ý chí chủ quan của nguy n đơn về sự tiện dụng, chứ không phải là nhu cầu khách quan, n n nguy n đơn ác định nhu cầu về lối đi này và kh i kiện y u cầu ị đơn phải dứt hành vi sử dụng đất trái pháp luật và dùng làm lối đi chung là không có căn cứ pháp luật và không phù hợp với thực tế khách quan. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, n nguy n đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ gì chứng minh Tòa án cấp sơ thẩm t ử không đứng pháp luật. Ý kiến của người ảo vệ quyền và lợi ích cho ị đơn là có căn cứ, ý kiến của i m sát vi n đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguy n đơn, giữ nguy n ản án sơ thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

Q YẾT Đ NH:

- Căn cứ khoản 1, Điều 148, khoản 1, Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. hông chấp nhận kháng cáo của nguy n đơn là ông Nguyễn Phước B.

Giữ nguy n Bản án sơ thẩm số 51/2018/DS-ST ngày 21-8-2018 của Tòa án nhân dân thị ã T , tỉnh Bình Dương.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Phước B phải chịu số tiền 300.000 đồng ( a trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Bi n lai thu tiền số 0024116 ngày 06 tháng 9 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị ã T , tỉnh Bình Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án.

Trường hợp ản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

TM HỘI Đ NG X T X H C TH M

- V SND tỉnh Bình Dương;

TH M HÁN – CHỦ TỌA HIÊN TÒA

- TAND thị ã T ;

- Chi cục THADS thị ã T ;

- Các đương sự;

- Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP.

Ngô Văn Minh

Các Thẩm phán thành viên

Thẩm phán – Chủ tọa

Ngô Văn Minh Nơi nhận:

TM HỘI Đ NG X T X H C TH M

- V SND tỉnh Bình Dương;

TH M HÁN – CHỦ TỌA HIÊN TÒA

- TAND thị ã Dĩ An;

- Chi cục THADS thị ã Dĩ An;

- Các đương sự;

- Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP.

Ngô Văn Minh

Các Thẩm phán thành viên

Thẩm phán – Chủ tọa

Ngô Văn Minh Các Thẩm phán thành viên

Thẩm phán – Chủ tọa

Ngô Văn Minh

Cỡ chữ