vanban.org

Bản án 94/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 09/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Q N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Q N 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 19 tháng 01 năm 2018). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Q N phạm tội Tàng trứ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Q N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2018/HSST
Ngày 9-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thanh Quảng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Thao

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhớ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố P.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương, Kiểm sát viên.

Ngày 9 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2018/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 138/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2018, đối với bị cáo:

Đinh Q N, sinh năm 1993, tại Q B; Nơi ĐKNKTT: Thôn Phú Hữu, xã L Tr, huyện B Tr, Q B; chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ 2, phường Y Th, thành phố P, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V L và bà Đinh T N; bị cáo chưa có vợ.

Tiền sự: Không; tiền án: 1 lần (tại Bản án số 199/2016/HSST ngày 01-9-2016, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 3 tháng 01 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, được trả tự do tại phiên tòa; bị cáo chưa thi hành án về khoản án phí hình sự của Bản án).

Ngày 19-01-2018, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang và bị tạm giữ, sau đó chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Y S, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn N N, xã Đ N, huyện N Hồi, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

2. Chị Tăng T L, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 323 N S S, Tổ dân phố 5, thị trấn Plei K, huyện N H, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

* Người làm chứng: ông Trần Đ Th, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ 6, phường Y T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Q N là người có sử dụng ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 18-01-2018, N gọi điện thoại cho đối tượng tên là Hà ở Q B (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy dạng “thuốc lắc” với số tiền 1.500.000 đồng để sử dụng. Hà đồng ý bán ma túy cho N và cả hai thống nhất là Hà sẽ ngụy trang gói ma túy vào gói quà dán kín, bên ngoài ghi tên N cùng với số điện thoại 0898366827 rồi gửi cho N qua xe khách chạy tuyến Bắc – Nam; khi xe đi đến ngã tư Biển Hồ, thành phố P sẽ gọi điện thoại cho N ra nhận; N sẽ trả tiền cho Hà cũng thông qua đường xe ô tô khách.

Khoảng 5 giờ 15 phút ngày 19-01-2018, xe ô tô khách (chưa xác định được tên, địa chỉ) gọi điện thoại cho N thông báo nhận hàng từ Q B, N biết đó là ma túy do Hà gửi nên ra nhận. Đến 5 giờ 30 phút cùng ngày 19-01-2018, tại đường Phạm Văn Đồng, thuộc khu vực Tổ 6, phường Y Th, thành phố P, khi N vừa nhận 01 gói quà từ xe ô tô khách tuyến Bắc – Nam, thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Gia Lai phát hiện. Kiểm tra bên trong gói quà mà N vừa nhận, Cơ quan điều tra phát hiện có 01 gói ni long, bên trong có chứa 29 viên nén màu hồng – một mặt in hình chữ “WY” và 01 viên nén màu xanh – một mặt in hình chữ “WY”. Cơ quan điều tra bắt quả tang N và thu giữ 30 viên nén theo quy định. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của N 4.400.000 đồng tiền Việt Nam; thu giữ 01 điện thoại di động màu vàng – đen, nhãn hiệu Vertu; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 81B1-166.52 và Giấy đăng ký xe mang tên Y S.

Qua trưng cầu giám định, tại bản Kết luận giám định số 118 ngày 26-01-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai, kết luận:

“29 viên nén màu hồng trong gói ninlon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 2,9496 gam, loại Methamphetamine (ngoài ra còn có Cafein).

01 viên nén màu xanh, một mặt có chữ “WY” và một mặt có chữ “A”, có khối lượng là 0,1065 gam (có Cafein) không phát hiện có chất ma túy thường gặp như: Hêrôin, Methamphetamine, MDMA, Ketamine, TFMPP”.

Tại bản Cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 15 tháng 5 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo Đinh Q N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng cũng như lời khai của những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đinh Q N mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù; buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Lúc 05 giờ 30 phút ngày 19-01-2018, tại đường Phạm Văn Đồng, thuộc Tổ 6, phường Y Th, thành phố P, Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Gia Lai bắt quả tang Đinh Q N khi N vừa nhận một gói hàng, bên trong chứa 29 viên nén là ma túy loại Methamphetamine, có trọng lượng 2,9496 gam và 1 viên nén màu xanh có trọng lượng 0,1065 gam có Cafein, không chứa thành phần ma túy thường gặp. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thể hiện, khi liên lạc để mua và thống nhất cách thức nhận các viên nén, bị cáo ý thức toàn bộ 30 viên nén là ma túy dạng “thuốc lắc”. Việc có một viên nén màu xanh không chứa chất ma túy là nằm ngoài ý muốn của N.

Như vậy, hành vi tàng trữ 30 viên nén có tổng trọng lượng 3,05 gam (trong đó có 2,9496 gam ma túy và 0,1065 gam không chứa chất ma túy - nhưng bị cáo ý thức đó là ma túy) của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo về tội danh và điều luật này là đúng. Việc bị cáo “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, nên cần được xử lý nghiêm.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích (do chưa thi hành khoản tiền án phí hình sự của bản án). Do vậy, hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình để đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.

Đối với đối tượng tên Hà, là người mà bị cáo N khai đã bán ma túy cho N, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan cảnh sát điều tra cần tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý.

Đối với nhà xe ô tô khách chạy tuyến Bắc – Nam và nhân viên nhà xe đã nhận, giao gói hàng bên trong có chứa ma túy cho N. Hiện Cơ quan điều chưa xác định được tên, địa chỉ, nên chưa có căn cứ xem xét trách nhiệm. Cơ quan điều tra cần tiếp tục xác minh để xử lý khi có căn cứ.

Về vật chứng:

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động màu vàng đen hiệu Vertu, bị cáo đã sử sụng để liên lạc mua ma túy, nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 81B1-166.52, Giấy đăng ký xe mang tên Y S, là tài sản do bị cáo N mượn của người khác để sử dụng. Việc N sử dụng xe mô tô này làm phương tiện để đi mua ma túy thì chủ sở hữu phương tiện và người cho mượn không biết. Nên Cơ quan điều tra trả lại xe cùng với Giấy đăng ký xe cho chủ sở hữu là phù hợp với pháp luật.

Số tiền 4.400.000 đồng Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo, là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

Số ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và viên nén màu xanh, không có giá trị sử dụng nên tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Q N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Q N 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 19 tháng 01 năm 2018).

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai, ghi số 118/PC54 ngày 26-01-2018.

Trả lại cho bị cáo số tiền 4.400.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vertu màu vàng đen đã qua sử dụng, kèm theo sim số.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-6-2018 giữa Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).

4. Về án phí:

Buộc bị cáo Đinh Q N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ