- Tranh chấp gì? án hình sự — "94 -2018 - Le Vinh H K1. 139 - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê Vĩnh H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, về toäi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày 10/01/2018.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2018/HSST Ngày: 15 – 6 – 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Năm.
2/ Ông Đoàn Văn Rỹ.
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngon – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2018/QĐXXST-HS ngày 25/5/2018 đối với bị cáo:
Lê Vĩnh H, sinh năm: 1978, tại: Tiền Giang; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: Ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Giang; chỗ ở: Số 327 Lưu Hữu Phước, Phường 15, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Thợ may; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Tô A © và bà Lê Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 10/01/2018, theo quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8. (Có mặt).
- Bị hại: Ông Trần Ngọc T, sinh năm: 1981; nơi cư trú: Số 57/6 Huỳnh Tấn Phát, ấp 6, xã Phú Xuân, Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Trần Kim L, sinh năm: 1977; nơi cư trú: Số 908/16/10 Huỳnh Tấn Phát, ấp 5, xã Phú Xuân, Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
2. Bà Trần Thị G, sinh năm: 1979; nơi cư trú: Số 779 đường Nguyễn Trãi, Phường 11, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3. Ông Lê U, sinh năm: 1966; nơi cư trú: Số 172/41 Tạ Uyên, Phường 6, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
4. Ông Lý Thanh P, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Số 22/2 Huỳnh Tấn Phát, ấp 5, xã Phú Xuân, Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
5. Bà Lê Thị Thanh L, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Số 908/16/12 Huỳnh Tấn Phát, ấp 5, xã Phú Xuân, Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
6. Bà Lê Thị Kim O, sinh năm: 1963; nơi cư trú: Số 38 lầu B1/1 chung cư Học Lạc, Phường 14, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Lê Vĩnh H dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Khoảng 15 giờ ngày 15/10/2016, Lê Vĩnh H sử dụng điện thoại di động số 01265127206 gọi đến cửa hàng bán đồ cúng Kim Loan (số 908/16/10 Huỳnh Tấn Phát, ấp 5, xã Phú Xuân, Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh) gặp bà Trần Kim L là chủ cửa hàng, hỏi mua 01 bộ áo phật bà nổi hột màu trắng, xanh, vàng, hồng, có thân rồng chủ đạo màu vàng giá 2.800.000 đồng; 01 bộ áo phật bà nổi thường màu hồng, xanh, vàng, đỏ, có thân rồng chủ đạo màu hồng giá 1.800.000 đồng; 01 bộ áo phật bà dài 40cm màu vàng, đen, trắng, xanh, đỏ giá 600.000 đồng; 01 bộ mão phật bà lớn màu trắng, vàng, đen, xanh, đỏ giá 900.000 đồng; 01 áo quan âm màu trắng, vàng, xanh, hồng giá 600.000 đồng, tổng số tiền là 6.700.000 đồng, H yêu cầu bà O giao hàng tại chung cư Bình Đăng, Phường 6, Quận 8; thì bà O đồng ý. Sau đó, bà O kêu em ruột là Trần Ngọc T lấy số đồ cúng đi giao cho H và lấy tiền. Ông T cùng vợ là Biện Thị Trà Y lấy đồ đi giao cho H. Ông T liên lạc thì được H hướng dẫn đi đến cầu thang lô C chung cư Bình Đăng, Phường 6, Quận 8; tại đây, H yêu cầu ông T giao số đồ cúng trên để H đem lên nhà trên chung cư cất và lấy tiền đem xuống trả cho ông T. H giả vờ nói như vậy để chiếm đoạt tài sản chứ H không có nhà và sinh sống tại chung cư. Ông T tưởng là thật nên đã giao hàng cho H. H chiếm đoạt số đồ cúng trên đi lên cầu thang và đi xuống bằng cầu thang phía sau chung cư để trốn thoát thì bị quần chúng nhân dân nghi vấn nên bắt giữ H cùng vật chứng giao cho Công an Phường 6, Quận 8 xử lý. Tạm giữ của H số tiền 1.534.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung, gắn sim số 01265127206. Vụ việc được lập hồ sơ cHển giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 điều tra làm rõ.
Ngày 20/10/2016, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 kết luận: Trị giá 01 bộ áo phật bà nổi hột màu trắng, xanh, vàng, hồng, có thân rồng chủ đạo màu vàng là 2.500.000 đồng; 01 bộ áo phật bà nổi thường màu hồng, xanh, vàng, đỏ, có thân rồng chủ đạo màu hồng là 1.500.000 đồng; 01 bộ áo phật bà dài 40cm màu vàng, đen, trắng, xanh, đỏ là 500.000 đồng; 01 bộ mão phật bà lớn màu trắng, vàng, đen, xanh, đỏ là 450.000 đồng; 01 áo quan âm màu trắng, vàng, xanh, hồng là 400.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản trên là 5.350.000 đồng.
Ngày 21/12/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Vĩnh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hết thời hạn điều tra không bắt được H, nên Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã. Ngày 10/01/2018, H bị bắt theo quyết định truy nã. Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Ngoài vụ lừa đào chiếm chiếm đoạt tài sản nêu trên, với thủ đoạn tương tự H còn khai nhận đã 02 lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản khác như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ (không rõ ngày) tháng 12/2016, H sử dụng điện thoại di động gọi đến cửa hàng bán đồ cúng Đại Phát (số 779, Nguyễn Trãi, Phường 11, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh) gặp bà Trần Thị G là chủ cửa hàng hỏi mua 01 bộ mão ngũ hành giá 1.250.000 đồng; 01 áo địa mẫu dài 01m giá 300.000 đồng; 01 áo choàng ông dài 01m giá 300.000 đồng và 01 mão địa mẫu giá 500.000 đồng, tổng số tiền là 2.350.000 đồng và yêu cầu giao số đồ cúng trên tại chung cư Bình Đăng, Phường 6, Quận 8; thì bà G đồng ý. Sau đó, bà G kêu nhân viên của cửa hàng là ông Lê U đi giao hàng và lấy tiền. Ông U liên lạc thì được H hướng dẫn đến chung cư Bình Đăng, Phường 6, Quận 8; tại đây, H yêu cầu ông U giao số đồ cúng trên cho H để H đem lên nhà trên chung cư cất và lấy tiền trả cho ông U. H giả vờ nói như vậy để chiếm đoạt tài sản chứ H không có nhà và sinh sống tại chung cư. Tin H nói thật, nên ông U giao hàng cho H. H chiếm đoạt số đồ cúng trên đi lên cầu thang và đi xuống bằng cầu thang phía sau chung cư rồi đem số đồ cúng trên bán cho một người không rõ lai lịch 01 bộ mão ngũ hành và 01 mão địa mẫu với giá 1.500.000 đồng, H tiêu xài hết, còn lại 01 áo địa mẫu dài 01m và 01 áo choàng ông dài 01m, H cất ở nhà. H đã giao nộp số đồ cùng con lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8.
Ngày 20/10/2016, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 kết luận: Trị giá 01 bộ mão ngũ hành giá là 100.000 đồng; 01 áo địa mẫu dài 01m là 200.000 đồng; 01 áo choàng ông dài 01m là 200.000 đồng và 01 mão địa mẫu giá 100.000 đồng, tổng trị giá các tài sản trên là 600.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ 20 phút, ngày 15/10/2016, H gọi điện thoại di động đến cửa hàng bán đồ cúng Thanh Phong (số 908/16/10 Huỳnh Tấn Phát, ấp 5, xã Phú Xuân, Hện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh) gặp bà Lê Thị Thanh L là chủ cửa hàng hỏi mua 01 bộ áo rồng nổi hột màu đỏ giá 3.000.000 đồng, 01 bộ áo rồng nổi thường màu vàng giá 1.600.000 đồng; 01 chiếc áo rồng xẹp màu đỏ 01m giá 600.000 đồng và 01 chiếc áo rồng xẹp màu vàng 01m giá 600.000 đồng, tổng số tiền là 5.800.000 đồng và yêu cầu bà L giao số đồ cúng trên tại chung cư Bình Đăng, Phường 6, Quận 8 thì bà L đồng ý. Sau đó, bà L đưa ông Lý Thanh P là chồng của bà L đem số đồ cúng trên đi giao cho H. Ông Phong liên lạc thì được H chỉ đến chung cư Bình Đăng, Phường 6, Quận 8; tại đây, H yêu cầu ông Phong giao số đồ cúng trên cho H để H đem lên nhà trên chung cư cất và lấy tiền trả cho ông Phong. H giả vờ nói như vậy để chiếm đoạt tài sản chứ H không có nhà và sinh sống tại chung cư. Tin H nói thật nên ông Phong giao hàng cho H. H chiếm đoạt số đồ cúng trên đi lên cầu thang và đi xuống bằng cầu thang phía sau chung cư trốn thoát rồi đem số đồ cúng trên đến cửa hàng Thanh Loan (số 959 Nguyễn Trãi, Phường 14, Quận 5) bán toàn bộ số đồ cúng trên cho bà Lê Thị Kim O là chủ cửa hàng, được 2.550.000 đồng, H tiêu xài hết 1.016.000 đồng, còn lại 1.534.000 đồng bị Công an Quận 8 thu giữ. Bà O đã giao nộp toàn bộ số đồ cúng mua của H cho Cơ quan điều tra Công an Quận 8.
Ngày 20/10/2016, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 kết luận: Trị giá 01 bộ áo rồng nổi hột màu đỏ giá 300.000 đồng, 01 bộ áo rồng nổi thường màu vàng giá 300.000 đồng; 01 chiếc áo rồng xẹp màu đỏ 01m giá 300.000 đồng và 01 chiếc áo rồng xẹp màu vàng 01m giá 400.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản trên là 1.300.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự:
- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã lập biên bản trao trả 01 áo địa mẫu dài 01m và 01 áo choàng ông dài 01m cho bà Trần Thị G và bà G yêu cầu H bồi thường 01 bộ mão ngũ hành và 01 mão địa mẫu đã bị chiếm đoạt với số tiền 1.750.000 đồng. Giai đoạn chuẩn bị xét xử không có yêu cầu H bồi thường số tiền này.
- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã lập biên bản trao trả 01 bộ áo phật bà nổi hột màu trắng, xanh, vàng, hồng, có thân rồng chủ đạo màu vàng; 01 bộ áo phật bà nổi thường màu hồng, xanh, vàng, đỏ, có thân rồng chủ đạo màu hồng; 01 bộ áo phật bà dài 40cm màu vàng, đen, trắng, xanh, đỏ; 01 bộ mão phật bà lớn màu trắng, vàng, đen, xanh, đỏ; 01 áo quan âm màu trắng, vàng, xanh, hồng cho ông Trần Ngọc T, ông T không yêu cầu bồi thường gì khác.
- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã lập biên bản trao trả 01 bộ áo rồng nổi hột màu đỏ giá, 01 bộ áo rồng nổi thường màu vàng; 01 chiếc áo rồng xẹp màu đỏ 01m và 01 chiếc áo rồng xẹp màu vàng 01m cho ông Lý Thanh P và ông Phong không yêu cầu bồi thường gì khác.
- Số tiền 1.534.000 đồng, là số tiền do H bán đồ cúng (do phạm tội mà có) cho bà Lê Thị Kim O. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã lập biên bản trao trả số tiền trên cho bà O và bà O không yêu cầu bồi thường số tiền còn lại 1.016.000 đồng.
Về vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động Samsumg màu trắng, gắn sim số 01265127206; là điện thoại của Lê Vĩnh H sử dụng để liên lạc nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đối với bà Lê Thị Kim O khi mua tài sản của H không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý.
Bản cáo trạng số 59/CT – VKS ngày 27/3/2018, của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Vĩnh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 139; các điểm: g, h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và xử phạt bị cáo Lê Vĩnh H mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Đồng thời đề nghị miễn phần hình phạt bổ sung cho bị cáo (do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, khó thi hành) và không xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự (vì chủ sở hữu hợp pháp đã nhận lại tài sản và chủ sở hữu không có yêu cầu bồi thường) cũng như đề nghị xem xét xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Vĩnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi: Do muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và bị cáo đã bằng thủ đoạn gian dối làm cho bị hại là ông Trần Ngọc T tin tưởng là thật nên đã giao cho bị cáo H tài sản gồm: 01 bộ áo phật bà nổi hột màu trắng, xanh, vàng, hồng, có thân rồng chủ đạo màu vàng; 01 bộ áo phật bà nổi thường màu hồng, xanh, vàng, đỏ, có thân rồng chủ đạo màu hồng; 01 bộ áo phật bà dài 40cm màu vàng, đen, trắng, xanh, đỏ; 01 bộ mão phật bà lớn màu trắng, vàng, đen, xanh, đỏ; 01 áo quan âm màu trắng, vàng, xanh, hồng; vào khoảng hơn 15 giờ, ngày 15/10/2016, tại khu vực cầu thang lô C, chung cư Bình Đăng, Phường 6, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua định giá xác định các tài sản trên có trị giá như sau: 01 bộ áo phật bà nổi hột màu trắng, xanh, vàng, hồng, có thân rồng chủ đạo màu vàng là 2.500.000 đồng; 01 bộ áo phật bà nổi thường màu hồng, xanh, vàng, đỏ, có thân rồng chủ đạo màu hồng là 1.500.000 đồng; 01 bộ áo phật bà dài 40cm màu vàng, đen, trắng, xanh, đỏ là 500.000 đồng; 01 bộ mão phật bà lớn màu trắng, vàng, đen, xanh, đỏ là 450.000 đồng; 01 áo quan âm màu trắng, vàng, xanh, hồng là 400.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản trên là 5.350.000 đồng (thuộc trường hợp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng).
Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Vĩnh H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Về nhân thân: Sau khi phạm tội và bị khởi tố, bắt tạm giam thì bị cáo đã bỏ trốn, sau đó bị bắt theo lệnh truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; nên việc bị cáo bỏ trốn đã gây khó khăn trong quá trình điều tra, nên cũng cần lưu ý.
Ngoài ra, bị cáo Lê Vĩnh H cũng với thủ đoạn gian dối làm cho chủ tài sản tin tưởng là thật, nên đã giao tài sản cho bị cáo và bị cáo đã chiếm đoạt được tài sản (vụ thứ nhất và khoảng 15 giờ (không rõ ngày) tháng 12/2016 và vụ thứ hai vào khoảng 14 giờ 20 phút, ngày 15/10/2016, cũng tại khu vực khu chung cư Bình Đăng, Phường 6, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); trong đó, mỗi vụ đều dưới 2.000.000 đồng. Mặc dù hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo không đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập; nhưng cũng cần lưu ý, cân nhắc khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra; tài sản đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, nên gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm: g, h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Lê Vĩnh H là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì bị cáo còn có thể bị phạt một số tiền nhất định từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng để nộp vào ngân sách nhà nước, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và khó thi hành; nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác; xét đây là quyền tự định đoạt của đương sự, nên nên ghi nhận.
Về số tiền thu lợi bất chính: Theo khai nhận của bị cáo H thì bị cáo đã hưởng lợi số tiền 2.516.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết; nên cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền này để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã thu hồi tài sản và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp theo quy định của pháp luật;
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động Samsumg DOUS, màu trắng, số Imei 1: 359465/07/714975/7, số Imei 2: 359466/07/714975/5, gắn sim số 01265127206; là tài sản của bị cáo Lê Vĩnh H và đã dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
11] Đối với bà Lê Thị Kim O, khi mua tài sản của bị cáo H thì bà O không biết đó là tài sản do phạm tội mà có; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý, là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 139; các điểm: g, h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);
Xử phạt: Bị cáo Lê Vĩnh H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, về toäi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày 10/01/2018.
Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Vĩnh H.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yều cầu bị cáo Lê Vĩnh H bồi thường.
Về số tiền thu lợi bất chính: Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);
Buộc bị cáo Lê Vĩnh H nộp lại số 2.516.000 đồng (Hai triệu năm trăm mười sáu nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Veà vaät chöùng: Căn cứ vào Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Khoản 2 Ñieàu 106 của Boä luaät toá tuïng hình söï năm 2015;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động Samsumg DOUS, màu trắng, số Imei 1: 359465/07/714975/7, số Imei 2: 359466/07/714975/5, gắn sim số 01265127206.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 31/PNK, ngày 11/01/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Vĩnh H phải chịu số tiền là 200.000đñoàng (Hai trăm nghìn đồng).
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PC.53 CA TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND Q.8, TP.HCM; - Chi cục THADS Q.8; - CQĐT CAQ.8, TP.HCM; - CQTHAHS Q.8, TP.HCM; - NTG CAQ.8, TP.HCM; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Trúc |