vanban.org

Bản án 94/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Kim L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 94/2018/HS - ST.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 26/6/2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Lê Thị Mỹ.

2. Ông: Trương Hoài Khanh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá, tham gia phiên tòa: Ông: Trần Ngọc Tú – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2018/HSST ngày 12/4/2018 đối với bị cáo:

Lâm Kim L – Sinh năm: 1971, tại Rạch Giá – Kiên Giang. Nơi ĐKHKTT: Số 08 Đinh Tiên H, phường Vĩnh Thanh V, Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang. Chổ ở: Số 08 Đinh Tiên H, phường Vĩnh Thanh V, Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Minh và bà Trần Thị Nguyệt; Chồng: Nguyễn Hùng Sơn; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm: 1999, nhỏ nhất sinh năm: 2004; Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa, bị cáo được tại ngoại. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa chỉ trên

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1/- Bà Lê Thị T – Sinh năm: 1951. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 8/1/2 Đinh Tiên H, phường Vĩnh Thanh V, Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang

2/- Bà Châu Thị Kim H – Sinh năm: 1963. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 83 Bạch Đ, phường Vĩnh Thanh V, Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang.

3/- Ông Nguyễn Thanh H – Sinh năm: 1974. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 183/23A Võ Trường T, phường Vĩnh Q, Tp. R G, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu năm 1013, Lâm Kim L bắt đầu đánh bạc ăn thua bằng tiền , với hình thức bán số đề tại nhà của L ở số 08 Đinh Tiên Hoàng, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Từ 13 giờ đến 16 giờ hàng ngày, L trực tiếp bán số đề cho những người đến mua số, loại số đầu, số đuôi, bao lô hia con, 03 con, số đá theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền Nam. Tỷ lệ ăn thua của số đầu, số đuôi, bao lô 02 con, là 1 trúng 80, số đá và bao lô 03 con là 01 trúng 600, khi bán số đề L ghi lai số đề giao cho người mua, đồng thời Lưu ghi lại các con số đã bán trên phơi chính của L bằng trang giấy A4. Những người mua số đề của L là những người sống gần khu vực với L , những người làm thuê, L chỉ biết mặt chứ không biết tên thật và địa chỉ. Từ khi bán số đề đến trước khi bị bắt quả tang , mỗi ngày L bán được tổng số tiền thấp nhất khoảng 200.000 đồng, nhiều nhất là 400.000 đồng. Trong quá trình bán số đề đến tháng 01/2017 L bị lỗ không có thu lợi, nhưng từ tháng 01/2017 đến ngày 09/01/2018 L thu lợi được 10.350.500 đồng. Đến khoảng 15 giờ 10 phút , ngày 09/01/2018 , tại nhà số 08 Đinh Tiên Hoàng, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Lâm Kim L đang trực tiếp ghi phơi đề bán cho Nguyễn Thanh Hoàng bao lô con số 13 với tổng số tiền là 75.000 đồng thì bị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trạt tự xã hội Công an tỉnh Kiên Giang phối hợp với công an phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, bắt quả tang thu giữ 03 phơi đề , của đài Bạc Liêu là 10.005.500 đồng, Vũng Tàu là 3.595.000 đồng, Bến Tre là 3.600.000 đồng, với tổng số tiền trên 03 phơi đề là 17.200.500 đồng (người mua số đề trả tiền mặt có 7430.000 đồng, còn thiếu lại 9.770.500 đồng). Tổng số tiền Việt Nam thu giữ là 45.372.000 đồng (trong đó 7.430.000 đồng là tiền bán số đề, còn lại là 37.942.000 đồng là tiền riêng của ông Nguyễn Hùng Sơn). Riêng Châu Thị Kim H , Lê Thị T đến nhà Lâm Kim L định mua số đề chưa kịp mua thì bị bắt, nhưng trước đó Kim Hoàng có mua của L 4.000 đồngg bao lô 02 con số, nhưng không trúng. Đến ngày 12/01/2018, Lâm Kim L bị Cơ quan cảnh sát điều tra – tỉnh Kiên Giang khởi tố và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

Quá trình điều tra Lâm Kim L phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị can tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc bán số đề.

*Về việc thu giữ tài liệu, đồ vật :

- Tiền Việt Nam 7.430.000 đồng (bảy triệu bốn trăm ba mươi ngàn đồng), là tiền Lâm Kim L bán số đề trong ngày 09/01/2018;

- Thu trong tủ tại phòng ngủ của Lâm Kim L số tiền 37.517.000 đồng . Thu của Nguyễn Thanh Hoàng 425.000 đồng. Tổng cộng thu 37.942.000 đồng;

- 01 điện thoai hiệu iphone 6, màu vàng, ( không số imei) đã qua sử dụng, 01 cuốn sổ có ghi nhiều con số, 02 máy tính điện tử nhãn hiệu Casio, 03 cây bút mực màu xanh;

- 03 phơi đề do Lâm Kim L bán trong ngày 09/01/2018, cả chữ ký xác nhận của Lâm Kim L .

Trong quá trình điều tra, Lâm Kim L tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 10.035.500 đồng.

* Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Lâm Kim L 01 điện thoại hiệu iphone 6, màu vàng ( không số imei) đã qua sử dụng không dùng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho Nguyễn Thanh H số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) ; trả lại cho anh Nguyễn Hùng Sơn là chồng Lâm Kim L số tiền 37.517.000 đồng( Ba mươi bảy triệu năm trăm mười bảy ngàn đồng) là tiền không liên quan đến việc phạm tội.

- 01 máy tính điện tử nhãn hiệu Casio màu đen; 01 máy tính điện tử Casio màu trắng;, 03 cây bút mực màu xanh; 03 phơi đề do Lâm Kim L bán trong ngày 09/01/2018; 01 cuốn tập học sinh, nhiều mảnh giấy trắng có nhiều kích cỡ khác nhau; Tiền Việt Nam 17.780.500 đồng. Tất cả nhập kho vật chứng theo Lệnh số 28 ngày 24/01/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

Tại bản Cáo trạng số: 61/ CT – VKSTPRG ngày 10/04/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo Lâm Kim L về tội "Đánh bạc", theo khoản 1 Điều 321của BLHS năm 2015;

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vị đại diện Viện kiểm sát quyết định giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lâm Kim L về tội "Đánh bạc". Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, gây mất trật tự trị an ở địa phương, hành vi này còn tiếp tay cho các tệ nạn xã hội... bản thân là người đã có 01 tiền án về hành vi "Đánh bạc" còn đang trong thời gian thử thách, nay lại tiếp tục phạm tội cũng về hành vi đánh bạc" Bị cáo không biết ăn năng hối cải d963 hoàn lương...Vì vậy, cần xử lý các bị cáo mức án tương xứng tính chất hậu qua hành vi đã gây nên. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình, số tiền đánh bạc không lớn, gia đình có hoàn cảnh rất khó khăn...Đề nghị HĐXX:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017, điểm i và s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS năm 2015:

* Xử phạt: Bị cáo Lâm Kim L – Mức án 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tù.

* Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

- Trả lại cho bị cáo Lâm Kim L 01 điện thoại hiệu iphone 6, màu vàng ( không số imei) đã qua sử dụng không dùng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho Nguyễn Thanh H số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) ; trả lại cho anh Nguyễn Hùng Sơn là chồng Lâm Kim L số tiền 37.517.000 đồng( Ba mươi bảy triệu năm trăm mười bảy ngàn đồng) là tiền không liên quan đến việc phạm tội.

- 01 máy tính điện tử nhãn hiệu Casio màu đen; 01 máy tính điện tử Casio màu trắng;, 03 cây bút mực màu xanh; 03 phơi đề do Lâm Kim L bán trong ngày 09/01/2018; 01 cuốn tập học sinh, nhiều mảnh giấy trắng có nhiều kích cỡ khác nhau; Tiền Việt Nam 17.780.500 đồng.

Tất cả nhập kho vật chứng theo Lệnh số 28 ngày 24/01/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

- Bị cáo nói lời nói sau cùng: xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm tội "Đánh bạc", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội.

Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi "Đánh bạc" trái phép là pháp luật nghiêm cấm, chỉ vì muốn có nhanh chóng có tiền tiêu xài lại có máu đỏ đen, hám lợi từ đồng tiền bất chính, từ đó các bị cáo đã bất chấp pháp luật lao vào con đường phạm tội để rồi các bị cáo nhận lấy sự trừng trị nghiêm khắc của pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, không những xâm phạm đến trật tự xã hội, đồng thời còn gây bất bình, căm phẫn trong dư luận quần chúng nhân dân mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Như chúng ta đã biết cờ bạc là một trong các loại tệ nạn xã hội, từ việc ham mê cờ bạc, số đề mà nhiều người bỏ bê công việc, nhiều gia đình phải tan gia bại sản lâm vào cảnh nợ nần, khốn khó…Do đó, pháp luật nước ta nghiêm cấm mọi hình thức đánh bạc sát phạt bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị lớn.

HĐXX nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, từ hành vi này của các bị cáo còn làm phát sinh thêm nhiều tệ nạn khác cũng như gia tăng tội phạm. Do đó, HĐXX thiết nghĩ cần tuyên cho bị cáo mức án tương xứng tính chất hậu quả hành vi mà bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở nên một công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Xét về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện giao nộp lại thu lợi bất chính, số tiền đánh bạc không lớn, bản thân là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng...Vì vậy, nghĩ cần áp dụng các điểm i và s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo cho bị cáo hưởng án treo và giao bị cáo về địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ nghiêm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp như HĐXX nhận định trên.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 321 BLHS quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng"

Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo thật sự có có khăn về kinh tế nhất định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS

+ Tịch thu, sung quỹ Nhà nước:

- Tiền Việt Nam: 17.780.500 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm tám mươi nghìn năm trăm đồng)

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) máy tín casino màu trắng - xám, đã qua sử dụng

- 03 (ba) cay bút mực xanh.

- 03 (ba) phơi đề.

- 01 (một) cuốn tập học sinh và nhiều mãnh giấy có nhiều kích thước khác nhau

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 33, ngày 10/04/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Kim L phạm tội "Đánh bạc".

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017, điểm i và s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 BLHS năm 2015;

* Xử phạt: Bị cáo Lâm Kim L – 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng. Thời hạn thử thách tứ từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Giao bị cáo Lâm Kim L cho UBND phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS

+ Tịch thu, sung quỹ Nhà nước:

- Tiền Việt Nam: 17.780.500 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm tám mươi nghìn năm trăm đồng)

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) máy tín casino màu trắng - xám, đã qua sử dụng

- 03 (ba) cay bút mực xanh.

- 03 (ba) phơi đề.

- 01 (một) cuốn tập học sinh và nhiều mãnh giấy có nhiều kích thước khác nhau

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 33, ngày 10/04/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá).

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/6/2018).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ