vanban.org

Bản án 94/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Lê Minh C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Lê Minh C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Lê Minh C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2018/HS-ST
Ngày: 16-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tư Sanh

2. Ông Đoàn Hồng Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 5 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2018/HSST ngày 24 tháng 9 năm 2018; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2018/HSST-QĐXX ngày 05 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

TRẦN LÊ MINH C, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1975, tại Long An; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường L, Phường E, thành phố F, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Trần Chiếm S, sinh năm: 1945 và bà: Lê Thị P, sinh năm: 1951; Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Tại bản án số 67/2013/HSST ngày 29/6/2013, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã xử phạt C 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/10/2016.

Bắt giữ ngày 13/6/2018 - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/6/2018, Trần Lê Minh C đón xe từ nhà ở Phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An đến khu vực hẻm bột mì, Phường 14, Quận 8 để gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) mua 06 gói heroin với giá 600.000 đồng và 03 đoạn ống nhựa ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi nhận ma túy từ người phụ nữ kia, C để tất cả số ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái và đến bệnh viện Chợ Rẫy. Mục đích C đến bệnh viện Chợ Rẫy là để sống lang thang tại đây. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/6/2018, anh Nguyễn Ngọc T là bảo vệ bệnh viện Chợ Rẫy đang trực theo dõi màn hình Camera thì phát hiện C đang đứng tại khu vực khoa chuẩn đoán hình ảnh ở tầng trệt có biểu hiện nghi vấn nên thông báo qua bộ đàm cho anh Huỳnh Công Th là bảo vệ đang tuần tra gần đó đến mời C về phòng bảo vệ làm việc. Tại phòng bảo vệ, qua kiểm tra thì phát hiện trong túi quần bên trái của C có 03 đoạn ống nhựa, bên trong chứa tinh thể không màu và 06 gói nylon, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy nên bảo vệ bệnh viện Chợ Rẫy đã đưa C cùng vật chứng đến trụ sở Công an Phường 12, Quận 5 lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5, Trần Lê Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Số ma túy trên là của C mua để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán. Lời khai của Trần Lê Minh C phù hợp với vật chứng đã thu giữ, lời khai nhân chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Các tình tiết tăng nặng: Trần Lê Minh C đã bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 67/2013/HSST ngày 29/6/2013, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này là tái phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

:

Thu giữ của Trần Lê Minh C:

- 03 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể không màu (m1). Tại kết luận giám định số 1029/KLGĐ-H ngày 21/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh thì tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3754 gam, loại Methamphetamine; 06 gói nylon, bên trong chứa chất bột màu trắng (m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3308 gam, loại Heroine.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia N73.

- 01 đồng hồ màu trắng có dây nhựa màu xanh lá cây hiệu HOOPS.

Số vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đã chuyển đến kho của chi cục thi hành án dân sự Quận 5 theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 104/CT-VKS ngày 24/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Lê Minh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Lê Minh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 03 năm tù; đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ được là chất Nhà nước cấm lưu hành; 01 điện thoại di động hiệu Nokia N73; 01 đồng hồ màu trắng có dây nhựa màu xanh lá cây hiệu HOOPS thu giữ của bị cáo, bị cáo sử dụng cá nhân, không liên quan đến tội phạm, đề nghị trả lại cho bị cáo.

Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo thừa nhận sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia N73 liên lạc mua ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Lê Minh C tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 13/6/2018 tại trụ sở Công an Phường 12 Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai người làm chứng, vật chứng của vụ án được thu giữ; kết luận giám định số 1029/KLGĐ-H ngày 21/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/6/2018, tại khu vực khoa chuẩn đoán hình ảnh, bệnh viện Chợ Rẫy, Phường 12, Quận 5, Trần Lê Minh C đã cất giữ trái phép ma túy trong túi quần bên trái gồm: 03 đoạn ống nhựa, bên trong chứa ma túy khối lượng 0,3754 gam, loại Methamphetamine và 06 gói nylon, bên trong chứa ma túy khối lượng 0,3308 gam, loại Heroine và bị bắt quả tang. Tổng số ma túy C tàng trữ cộng dồn là 0,7062 gam. Hành vi cất giữ trái phép chất ma túy của Trần Lê Minh C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 truy tố đối với bị cáo Trần Lê Minh C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã bị kết án 01 lần về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị nhà nước nghiêm cấm, nhưng do lối sống buông thả, bị cáo không từ bỏ được ma túy nên vẫn mua và cất giữ ma túy trong túi quần để sử dụng, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Khi bị bắt, qua xét nghiệm, bị cáo dương tính với chất ma túy.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách của nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy và bài trừ tệ nạn mua bán, sử dụng lậu chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bị cáo và của cộng đồng. Do đó, cần có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo không tiếp tục tái phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 bản án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã khai báo rõ về hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải; gia đình có công với Cách mạng; cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo tái phạm tội, cần áp dụng hình phạt bổ sung, buộc bị cáo nộp phạt 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 110/2015/QH13 của Quốc hội;

- 01 (một) gói niêm phong số vụ 1029/2018/Q5, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ Nguyễn Thành T1, bên trong chứa số ma túy thu giữ còn lại sau giám định là loại nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia N73 bị cáo sử dụng liên lạc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước; 01 đồng hồ màu trắng có dây nhựa màu xanh lá cây hiệu HOOPS thu giữ của bị cáo, bị cáo sử dụng cá nhân, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Lê Minh C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Trần Lê Minh C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2018.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Buộc bị cáo nộp phạt 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 110/2015/QH13 của Quốc hội;

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) gói niêm phong số vụ 1029/2018/Q5, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ Nguyễn Thành T1, bên trong chứa số ma túy thu giữ còn lại sau giám định.

Tịch thu sung quỹ nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia N73-1, số Imei: 353641/01/836871/6;

Trả lại cho bị cáo:

- 01 đồng hồ màu trắng có dây nhựa màu xanh lá cây hiệu HOOPS.

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5 đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/8/2018 giữa Công an Quận 5 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5).

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng);

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ