vanban.org

Bản án 94/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P đối với anh Đinh Quan P. Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Đinh Quan P.

Về con chung: Cháu Đinh Quan Đạt, sinh năm 1996 và cháu Đinh Thị Thúy Hằng, sinh năm 1998 đã thành niên, có khả năng lao động, sinh sống được, chị P không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị P với anh P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P đối với anh Đinh Quan P. Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Đinh Quan P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 17-10-2018
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NINH

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Thành Ngọc.

2. Ông Trần Văn Thạch.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Thúy Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 373/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2018/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1978 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Trú tại: Số 11A ấp Trường C, xã Trường H, huyện H Thành, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Anh Đinh Quan P, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Trú tại: Số 11A ấp Trường C, xã Trường H, huyện H Thành, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 23/5/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị P trình bày:

Chị Nguyễn Thị P và anh Đinh Quan P tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 1995 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/3/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Anh chị chung sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng về sau P sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình, anh P thường xuyên uống rượu về quậy phá gia đình, đánh chị nhiều lần, chị và anh P vẫn sống chung một nhà nhưng ly thân hơn một năm. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh P.

Về con chung: Anh chị có 03 con tên Đinh Quan Đạt, sinh năm 1996; Đinh Thị Thúy Hằng, sinh năm 1998 và Đinh Quang Thành, sinh ngày 05/4/2004. Khi ly hôn, cháu Đạt và cháu Hằng đã thành niên, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thành, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Bị đơn: Anh Đinh Quan P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh P không đến Toà án để dự phiên hoà giải và dự phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H Thành tham gia phiên tòa P biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị P, anh P là phù hợp theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên P biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chị P và anh P chung sống với nhau từ năm 1995 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau P sinh mâu thuẫn do anh P thường xuyên uống rượu về quậy phá gia đình, đánh chị P nhiều lần. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị P yêu cầu được ly hôn với anh P. Đối với yêu cầu ly hôn của chị P nhưng anh P không đến Tòa để giải quyết mâu thuẫn là không có thiện chí hàn gắn. Xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P là có căn cứ.

Về con chung: có 03 con tên Đinh Quan Đạt, sinh năm 1996; Đinh Thị Thúy Hằng, sinh năm 1998 và Đinh Quang Thành, sinh ngày 05/4/2004. Hiện cháu Đạt và cháu Hằng đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Thành có nguyện vọng được ở cùng mẹ và thu nhập của chị P cũng ổn định để nuôi con nên giao cháu Thành cho chị P nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Từ phân tích trên, căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị P.

Tính án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Anh Đinh Quan P có nơi cư trú tại nhà số 11A, ấp Trường C, xã Trường H, huyện H Thành, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân huyện H Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý vụ án là đúng theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: trong quá trình thu thập chứng cứ cho đến khi xét xử, nguyên đơn là chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh P vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với chị P, anh P là đúng với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh P chung sống với nhau từ năm 1995 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu, nhưng về sau P sinh mâu thuẫn do anh P thường xuyên uống rượu về quậy phá gia đình, đánh vợ, không chăm lo cuộc sống gia đình. Nay chị P cương quyết ly hôn với anh P. Xét thấy, chị P và anh P không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P là phù hợp.

Về con chung: Có 03 con tên Đinh Quan Đạt, sinh năm 1996; Đinh Thị Thúy Hằng, sinh năm 1998 và Đinh Quang Thành, sinh ngày 05/4/2004. Cháu Đạt và cháu Hằng đã thành niên, có khả năng lao động, sinh sống được nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Cháu Thành có nguyện vọng được sống chung với chị P và chị P cũng đồng ý nuôi con nên giao cháu Thành cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là có căn cứ và phù hợp theo quy định của pháp luật. Chị P không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu giải quyết.

. Về nợ chung: Chị P trình bày không có.

Chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H Thành là hợp lý cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P đối với anh Đinh Quan P. Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Đinh Quan P.

2. Về con chung:

Cháu Đinh Quan Đạt, sinh năm 1996 và cháu Đinh Thị Thúy Hằng, sinh năm 1998 đã thành niên, có khả năng lao động, sinh sống được, chị P không yêu cầu giải quyết.

Giao chị Nguyễn Thị P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đinh Quang Thành, sinh ngày 05/4/2004. Ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị P trình bày không có.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai thu số 0019988 ngày 23/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị P đã nộp xong tiền án phí.

Chị Nguyễn Thị P, anh Đinh Quan P được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ