vanban.org

Bản án 94/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng ñieåm b khoaûn 2 Đieàu 227, khoaûn 3 Đieàu 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các đieàu 280, 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/…

Về dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài Chính A Ngân hàng B có đại diện theo ủy quyền ông Trần Minh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng ñieåm b khoaûn 2 Đieàu 227, khoaûn 3 Đieàu 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các đieàu 280, 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 94/2018/DS-ST
Ngày: 13/11/2018
V/V tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thúy Vân.

2. Bà Phạm Thị Phượng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Lê Quế Thanh - Cán bộ TAND thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 13 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2018/TLST- DS ngày 31 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2018/QĐXXST- DS ngày 03 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Công ty Tài Chính A Ngân hàng B.

- Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà Ree Tower, số 9, Đoàn Văn Bơ, phường 12, quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh..

Đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng H - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Mỹ D - Chức vụ: Trưởng nhóm Tố Tụng - Phòng Thu Hồi Nợ Pháp Lý - Trung tâm Thu Hồi Nợ - Công ty Tài Chính A Ngân hàng B.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Minh H, sinh năm 1988 (theo văn bản ủy quyền số 2718/2018/UQTA-VH.18 ngày 17/9/2018). (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Tiền Giang

2. Bị đơn: Bà Mai Thị R, sinh năm 1991. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 19/7/2018, tại lời khai trong các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty Tài Chính A Ngân hàng B có đại diện theo ủy quyền ông Trần Minh H trình bày: Ngày 07/3/2016, bà Mai Thị R có ký kết hợp đồng tín dụng số 20160307-500000-3143 với Công ty Tài Chính A Ngân hàng B vay số tiền 34.753.512 đồng với lãi suất thỏa thuận là 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà R có trách nhiệm thanh toán số tiền là 63.892.000 đồng (gồm cả vốn gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền là 1.775.000 đồng, tháng cuối cùng trả là 1.767.000 đồng, kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 15/4/2016, kỳ trả cuối cùng trả vào ngày 15/3/2019. Sau khi nhận tiền vay xong thì phía bà R có thanh toán cho phía Công ty Tài Chính A Ngân hàng Bđược tổng số tiền là 12.425.000 đồng thì ngưng không thanh toán tiếp. Kể từ ngày 22/12/2016 cho đến nay bà R không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Hiện nay phía bà R còn nợ lại Công ty tổng cộng số tiền là 51.467.000 đồng (Trong đó vốn vay là 31.644.053 đồng, lãi là 19.822.947 đồng). Nay yêu cầu bà Mai Thị R phải có nghĩa vụ trả lại cho Công ty Tài Chính A Ngân hàng B số tiền là 51.467.000 đồng (Trong đó vốn vay là 31.644.053 đồng, lãi là 19.822.947 đồng) và trả 01 lần sau khi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn bà Mai Thị R dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gởi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Việc vắng mặt bị đơn bà Mai Thị R. Xét thấy, bị đơn bà R đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt phía bị đơn bà R.

Về quan hệ tranh chấp: Xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Về yêu cầu của nguyên đơn Công ty Tài Chính A Ngân hàng B có đại diện theo ủy quyền ông Trần Minh H: yêu cầu bà Mai Thị R phải có nghĩa vụ trả lại cho Công ty Tài Chính A Ngân hàng B số tiền là 51.467.000 đồng (Trong đó vốn vay là 31.644.053 đồng, lãi là 19.822.947 đồng) và trả 01 lần sau khi án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, yêu cầu của phía nguyên đơn Công ty Tài Chính A Ngân hàng B là có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ, tại phiên tòa hôm nay phía nguyên đơn Công ty Tài Chính A Ngân hàng B có đại diện theo ủy quyền ông Trần Minh H xác định phía bà R có vay của Công ty Tài Chính A Ngân hàng Bsố tiền là 34.753.512 đồng với lãi suất thỏa thuận là 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà R có trách nhiệm thanh toán số tiền là 63.892.000 đồng (gồm cả vốn gốc và lãi). Sau khi vay bả Rẩy có trả vốn, lãi được số tiền là 12.425.000 đồng thì ngưng không có trả tiếp cho phía Công ty và đã vi phạm thỏa thuận đối với Công ty. Phía nguyên đơn cũng có cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh là phía bà R có vay tiền của Công ty cụ thể là hợp đồng tín dụng số 20160307-500000-3143 nên yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn Công ty Tài Chính A Ngân hàng Blà có cơ sở để chấp nhận.

Đối với phía bị đơn bà Mai Thị R dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến và không có ý kiến gởi cho Tòa án. Cho thấy, phía bị đơn bà R đã biết được số tiền mà phía nguyên đơn Công ty Tài Chính A Ngân hàng Bđã khởi kiện để yêu cầu phía bị đơn bà R phải có nghĩa vụ trả, nhưng phía bị đơn bà R đã từ bỏ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh là mình có nợ số tiền vốn vay và lãi đối với yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn hay không, đều này cũng đồng nghĩa là phía bị đơn bà R đã thừa nhận số tiền còn nợ mà phía nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu phía bị đơn bà R phải trả nên không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Việc bị đơn cố tình không đến là nhằm kéo dài thời gian trả nợ và gây khó khăn cho việc thu hồi nợ đối với phía nguyên đơn. Đối với phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn nên cần buộc phía bị đơn bà Mai Thị R phải có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài Chính A Ngân hàng B số tiền là 51.467.000 đồng (Trong đó vốn vay là 31.644.053 đồng, lãi là 19.822.947 đồng) và trả 01 lần sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phía bị đơn bà R phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho phía nguyên đơn là 51.467.000 đồng theo quy định tại khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nên bà R phải có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.573.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng ñieåm b khoaûn 2 Đieàu 227, khoaûn 3 Đieàu 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các đieàu 280, 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

1. Về dân sự:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài Chính A Ngân hàng B có đại diện theo ủy quyền ông Trần Minh H.

Buộc bà Mai Thị R phải có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài Chính A Ngân hàng B số tiền là 51.467.000 đồng (Trong đó vốn vay là 31.644.053 đồng, lãi là 19.822.947 đồng) và trả 01 lần sau khi án có hiệu lực pháp luật

Kể từ ngày hết hạn hợp đồng là ngày 15/3/2019 và phía nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn bà Mai Thị R chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trên số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí:

Buộc bà Mai Thị R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.573.000 đồng.

Hoàn lại cho Công ty Tài Chính A Ngân hàng B 1.286.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001719 ngày 27 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn bà Mai Thị R thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ