vanban.org

Bản án 94/2017/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 15/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Giao bị cáo Lê Văn K cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 31 Bộ luật Hình sự xử phạt cải tạo; Điều 143 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƢ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2017/HS-ST
Ngày: 15-12-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhiễu.

2. Ông Phạm Đức Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2017/ TLST-HS ngày 13/11/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2017/QĐXXST-HS ngày 05/12/2017 đối với bị cáo:

Lê Văn K, sinh ngày 01/6/1960

Nơi cư trú: Thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/10; Dân tộc: Kinh;

Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lê Văn T và bà Vũ Thị N (tức V); Có vợ là: bà Phạm Thị N, sinh năm 1962; Có 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1978;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1964;

Trú tại: Thôn T, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình.

2. Anh Nguyễn Hồng D, sinh năm 1974.

Trú tại: Thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22/8/2017, Lê Văn K đi qua nhà ông Nguyễn Hồng D ở cùng thôn thì thấy anh Lê Văn Đ và ông Lê Văn Đ đang ngồi ở sân nhà ông D. Do trước đó đã xảy ra mâu thuẫn về việc ông Đ và anh Đ yêu cầu ông K phải phá gian bếp của gia đình để làm ngõ đi chung nên K có nói với anh Đ “Bố con mày có giỏi thì cứ đập bếp nhà tao mà đổ ngõ đi”. Anh Đ nghe thấy thế liền lao về phía K và nói“Tao đập chết mày bây giờ”. K nói với anh Đ “Mày có giỏi đánh tao đi”. Anh Đ đứng đối diện với K, dùng tay trái quàng vào cổ K, đồng thời cúi khom người bế K ném xuống mương dẫn nước trước cửa nhà ông D rồi đi vào nhà ông D. Kết từ dưới mương nước tự leo lên đường, do bực tức vì bị anh Đ ném xuống mương nước, K nảy sinh ý định làm hư hỏng xe ô tô của anh Đ. K nhặt một viên gạch vỡ bằng đất nung màu đỏ, kích thước (09 x 05) cm ở bụi tre, đi đến trước đầu xe ô tô con loại 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu TOYOTA, loại VIOS, biển số đăng ký 30E - 493.15 của anh Đ đang đỗ ở đường thôn gần cầu thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình. Khi đi đến phía trước đầu xe ô tô, cách khoảng 05 mét, K cầm viên gạch ở tay trái ném mạnh vào tấm kính chắn gió phía trước có dán tấm phim chống nắng loại 3M, làm kính xe bị vỡ rạn nứt lan tỏa hình mạng nhện thiệt hại là 3.396.000 đồng (Ba triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng)

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Lời khai của người bị hại là anh Lê Văn Đ; lời khai của những người làm chứng là ông Phạm Văn H, ông Nguyễn Hồng D; Biên bản xác định hiện trường và sơ đồ hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập hồi 11 giờ 15 phút ngày 22/8/2017 tại thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình; Biên bản quản lý phương tiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 22/8/2017 tại thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình; Biên bản quản lý đồ vật do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập hồi 13 giờ 45 phút ngày 22/8/2017 tại Ban công an xã D; Biên bản xác định tài sản bị thiệt hại do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập hồi 15 giờ 05 phút ngày 22/8/2017 tại trụ sở Công an huyện Vũ Thư đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

- Kết luận định giá tài sản số 50 ngày 29/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình kết luận:

01 tấm kính chắn gió phía trước (kính và công lắp) xe ô tô VIOS sản xuất 2005 mang biển kiểm soát 30E – 493.15 đã qua sử dụng; có giá trị còn lại đồng thời là giá trị thiệt hại: 2.196.000 đồng.

01 tấm phim dán chống nắng loại 3M của kính chắn gió phía trước (đã bao gồm công dán) của xe ô tô VIOS sản xuất 2005 mang biển kiểm soát 30E – 493.15 đã qua sử dụng; có giá trị còn lại đồng thời là giá trị thiệt hại: 1.200.000 đồng.

Tổng giá trị còn lại đồng thời là giá trị thiệt hại: 3.396.000 đồng. (Ba triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng)

Bản Cáo trạng số 91/KSĐT ngày 13 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, đ, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 18 tháng.

Vật chứng của vụ án: 01 viên gạch vỡ màu đỏ, kích thước (09 x 05) cm không còn giá trị sử dụng nên đề nghị áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự khắc phục thiệt hại cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo, người bị hại không ai khiếu nại hay có ý kiến gì.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản xác định hiện trường và sơ đồ hiện trường; Biên bản quản lý phương tiện; Biên bản quản lý đồ vật; Biên bản xác định tài sản bị thiệt hại; Kết luận định giá tài sản và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22/8/2017, tại trục đường thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình do bực tức với anh Lê Văn Đ vì anh Đ bế ném xuống mương nước nên Lê Văn K đã có hành vi cầm viên gạch ném vỡ kính chắn gió phía trước xe ô tô con loại 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu TOYOTA, loại VIOS, biển số đăng ký 30E - 493.15 của anh Đ, làm vỡ tấm kính chắn gió phía trước có dán tấm phim chống nắng loại 3M, thiệt hại giá trị là 3.396.000 đồng (Ba triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn; Bị cáo biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện việc coi thường pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: đã tự nguyện khắc phục hậu quả; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm b, đ, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự do vậy cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cần áp dụng Điều 31 Bộ luật Hình sự xử phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.

Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo vì bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định.

Về vật chứng:

01 viên gạch vỡ màu đỏ, kích thước (09 x 05) cm không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã tự khắc phục thiệt hại cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, đ, h, p khoản 1 Điều 46, Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Lê Văn K 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê Văn K cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003: Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch vỡ màu đỏ, kích thước (09 x 05) cm.

- Về án phí: Áp dụng Điều 98, Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, anh Lê Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/12/2017.

Cỡ chữ