- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tuấn A - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 31 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 143 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2017/HSPT Ngày 27 tháng 02 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM0
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Tạ Gia Lương
Các thẩm phán:
Ông Phùng Văn Quang
Ông Nguyễn Trường Sơn
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hoàng Cao Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 2 năm 2017, Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2017/HSPT ngày 06 tháng 1 năm 2017.
Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 266/2016/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2016 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo bị kháng nghị:
Lê Tuấn A - sinh năm 1989; Giới tính: Nam;
ĐKHKTT: Đội 6, Khu P, phường N, thành phố T, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Tổ 78, khu 6A, phường T, thành phố T, tỉnh Phú Thọ. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lê Mạnh H - sinh năm 1958; Con bà: Nguyễn Thị Thanh M - sinh năm: 1968; Vợ: Nguyễn Thị Hải L - sinh năm: 1990; có 1 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tòa án không triệu tập.
NHẬN THẤY
Bị cáo Lê Tuấn A bị VKSND thành phố T truy tố và TAND thành phố T xét xử về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 29/8/2016, Lê Tuấn A điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19T1-8331cùng một người tên là H đi uống bia đã va chạm vào xe đạp điện do chị M - sinh năm 1996 điều khiển đi theo hướng từ đường T đến ngã tư D thuộc phường T, chị M ngã, xe đạp điện bị đổ nhưng Tuấn A và nam thanh niên ngồi trên xe Tuấn A định bỏ đi. Lúc đó anh C - sinh năm 1978, trú tại: Khu 5, phường T, thành phố T, tỉnh Phú Thọ là lái xe của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên L - Phú Thọ ( Viết tắt: Công ty TNHH L) đang ngồi trong xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING biển kiểm soát 19A- 053.07 đỗ ở gần đó. Anh C mở kính chắn gió phía trước bên trái xuống và nói “quay lại đỡ người ta dậy”. Lê Tuấn A nói với anh C “không phải việc của mày”. Rồi Tuấn A đi về phía xe của anh C dùng tay phải đấm về phía anh C, anh C tránh được và mở cửa xe chạy ra ngoài. Tuấn A đuổi không kịp anh C đã quay lại chỗ chiếc xe ô tô của anh C, dùng chân phải đạp 01 cái vào gương chiếu hậu bên phải của xe ô tô làm gãy lẫy gương và bong, rơi mặt gương xuống đường. Sau đó Tuấn A đi vòng sang bên cửa lái định mở cửa xe ra, nhưng anh C chạy lại mở cửa xe bên phụ vào trong xe ô tô chốt cửa xe lại. Tuấn A nhảy lên đứng trên nắp ca bô tiếp tục dùng chân phải đạp 01 cái vào tấm kính chắn gió phía trước xe, làm kính xe bị rạn vỡ hình mạng nhện, kích thước 78cm x 83cm, ở vị trí phía trước vô lăng. Sau đó Tuấn A và bạn Tuấn A bỏ đi.
Thiệt hại của Công ty TNHH L: hỏng kính chắn gió là 1.260.000đ; hỏng gương chiếu hậu 1.280.000đ. Tổng là: 2.280.000 đồng. Bà M (là mẹ đẻ Lê Tuấn A) đã tự nguyện bồi thường số tiền là 7.075.000 đồng cho Công ty TNHH L .
Lê Tuấn A đã tự nguyện bồi thường cho chị M số tiền sửa chữa xe là 500.000 đồng. Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt hành chính Lê Tuấn A mức phạt là 4.670.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 266/2016/HSST ngày 29/11/2016 TAND thành phố T, tỉnh Phú Thọ đó : Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Tuấn A 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Quyết định số 6896/2016/TB - TA ngày 09/12/2016 TAND thành phố T sửa chữa bổ sung bản án bổ sung áp dụng thêm "Điều 31" trong phần quyết định của bản án.
Bản án còn tuyên các vấn đề khác đúng pháp luật.
Tại quyết định số 660/KN - VKS ngày 09 tháng 12 năm 2016 Viện kiểm sát nhân dân thành phố T kháng nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 1 Điều 48; Bị cáo bị phạt cải tạo không giam giữ nhưng Tòa án thành phố T không áp dụng điều 31 BLHS và đề nghị xử tăng hình phạt đối với Lê Tuấn A.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng điểm d khoản 1 Điều 48 BLHS, xử tăng hình phạt đối với Lê Tuấn A từ 18 tháng đến 21 tháng cải tạo không giam giữ.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Tuấn A hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm quy kết. Bị cáo bị TAND thành phố T xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" là đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T về việc Lê Tuấn A thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ, áp dụng điểm d khoản 1 Điều 48 BLHS là tình tiết tăng nặng TNHS đối với Lê Tuấn A. Hội đồng xét xử thấy: Lê Tuấn A sau khi va chạm xe mô tô với xe đạp điện của chị M làm chị M ngã nhưng Tuấn A bỏ mặc người bị hại. Khi được anh C nhắc nhở bị cáo đã không thực hiện theo quy định của pháp luật mà lại dồn đuổi nhằm đánh anh C. Khi không đánh được anh C, bị cáo dùng chân đạp làm gãy gương xe ô tô; đạp làm rạn vỡ kính chắn gió xe ô tô do anh C điều khiển. Hành vi gây tai nạn giao thông rồi bỏ mặc người bị hại của Lê Tuấn A đã bị xử lý bằng một quyết định xử lý hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm không coi hai lần Tuấn A đạp vào xe ô tô là tình tiết tăng nặng "Phạm tội có tính chất côn đồ" vì 2 lần bị cáo cố ý đạp vào xe ô tô gây thiệt hại hơn 2 triệu đồng mới đủ cấu thành tội phạm. Bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, mức phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ do Tòa án cấp sơ thẩm phạt Lê Tuấn A nằm trong khung hình phạt tại khoản 1 Điều 143 BLHS là phù hợp.
Quyết định kháng nghị còn yêu cầu bổ sung điều 31 BLHS trong phần quyết định của bản án là đúng. Vấn đề này Tòa án cấp sơ thẩm đã khắc phục bằng việc ban hành Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án trong cùng một ngày Viện kiểm sát ban hành quyết định kháng nghị được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 BLTTHS, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 31 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Tuấn A 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Lê Tuấn A không phải nộp án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - CA,VKSND, TAND, THA DS TP T; - Sở TP tỉnh PT; PV27; - Bị cáo; - UBND phường T; - Lưu HS - AV; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ( đã ký ) Tạ Gia Lương |