vanban.org

Bản án 937/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty T1 (Việt Nam). 1. Buộc bà Nguyễn Thúy T có trách nhiệm trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền 91.817.326 đồng (chín mươi mốt triệu tám trăm mười bảy ngàn ba trăm hai mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc 29.991.195 đồng, nợ lãi trong hạn 17.987.922 đồng, nợ lãi quá hạn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty T1 - Nguyễn Thúy T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 937/2026/DS-ST
Ngày: 11/05/2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lưới. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Vân 2. Ông Phạm Văn Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nga - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 05 năm 2026 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1350/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 864/2026/QĐXXST-DS ngày 16/03/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 1365/2026/QĐST-DS ngày 13/04/2026 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam) Địa chỉ: I P, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H – Tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Công ty L, (văn bản ủy quyền lập ngày 17/04/2025). Người đại diện theo ủy quyền (ủy quyền lại): Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm: 2000 Địa chỉ: phòng D, Tầng D, tòa nhà S T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 17/4/2025), (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt). 2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thúy T, sinh năm: 1992, (vắng mặt). Địa chỉ: B Hồ T, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30/09/2025, bản tự khai đại diện của nguyên đơn bà Lâm Thị Thùy D trình bày:

Ngày 11/11/2022 Công ty T1 (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng tín dụng số: 3915006 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thúy T với khoản vay trị giá 32.310.000 đồng, lãi suất 48%/năm. Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Nguyễn Thúy T. Theo Hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thúy T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 30 tháng kể từ ngày 15/12/2022 đến ngày 15/05/2025.

Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, bà T chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty được số tiền là 7.483.625 đồng. Từ ngày 27/06/2023 bà T không thanh toán cho Công ty T1.

Công ty T1 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà Nguyễn Thúy T thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T1 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà Nguyễn Thúy T biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thúy T vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T1.

Căn cứ quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, cụ thể là không thanh toán đúng hạn số tiền theo quy định của Hợp đồng tín dụng ký kết với Công ty T1. Tính đến ngày 11/05/2026, bà Nguyễn Thúy T còn nợ số tiền là 91.817.326 đồng, trong đó:

Số dư nợ gốc chưa thanh toán: 29.991.195 đồng.

Số tiền nợ lãi trong hạn: 17.987.922 đồng.

Số tiền nợ lãi quá hạn: 39.557.231 đồng.

Số tiền lãi chậm trả: 4.280.978 đồng.

Công ty còn yêu cầu bà Nguyễn Thúy T phải thanh toán lãi, phí phát sinh từ ngày 12/05/2026 cho đến khi thi hành xong toàn bộ khoản vay theo hợp đồng đã ký. Bà Lâm Thị Thùy D có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

Bà Nguyễn Thúy T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Công ty T1 khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Thúy T. Đây là tranh chấp về hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[1.2] Bị đơn cung cấp địa chỉ theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 09/11/2022 tại B Hồ T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh), nên theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/06/2025, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/06/2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thùy D có đơn yêu cầu vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà D theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Bà Nguyễn Thúy T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đương sự, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Nguyễn Thúy T vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự giữa Công ty T1 và bà Nguyễn Thúy T được thực hiện vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết vụ án.

Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Tòa án triệu tập bà Nguyễn Thúy T đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản với Công ty T1 nhưng bà T không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy, bà T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình và phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện, lời trình bày và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm chứng cứ giải quyết vụ án.

Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3915006 ngày 09/11/2022 và báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng ngày 05/09/2024, báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng ngày 05/09/2024, Công văn yêu cầu thanh toán nợ quá hạn ngày 17/04/2023, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thì đủ cơ sở xác định Công ty T1 đã cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thúy T với số tiền 32.310.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn 48%/năm. Sau khi được cấp tín dụng bà Nguyễn Thúy T đã nhận đủ số tiền là 32.310.000 đồng. Trong quá trình vay bà Nguyễn Thúy T đã thanh toán cho Công ty T1 số tiền 7.483.625 đồng, còn nợ Công ty T1 tính đến ngày 11/05/2026 là 91.817.326 đồng (chín mươi mốt triệu tám trăm mười bảy ngàn ba trăm hai mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc 29.991.195 đồng, nợ lãi trong hạn 17.987.922 đồng, nợ lãi quá hạn 39.557.231 đồng, lãi chậm trả 4.280.978 đồng.

Công ty T1 ký hợp đồng tín dụng số 3915006 ngày 09/11/2022 với bà Nguyễn Thúy T là thể hiện sự tự nguyện của hai bên, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật. Hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng là hợp pháp và có giá trị ràng buộc giữa các bên để thực hiện hợp đồng, là cơ sở pháp lý để mỗi bên xác định quyền và nghĩa vụ của mình.

Bà Nguyễn Thúy T đã vi phạm thỏa thuận tại các điều khoản mà hai bên đã giao kết, vi phạm Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”;

Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Công ty tài chính của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật…”.

Tại khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định: “4. Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;

b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;

c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.”

Tại Mục 8.3 Hợp đồng tín dụng của Công ty T1 quy định về trách nhiệm thanh toán: “… khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận thì ngoài việc trả lãi trên nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận thì khách hàng còn phải chịu tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn và tiền lãi chậm trả…”.

Đối chiếu các quy định như trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 11/05/2026 là: 91.817.326 đồng (chín mươi mốt triệu tám trăm mười bảy ngàn ba trăm hai mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc 29.991.195 đồng, nợ lãi trong hạn 17.987.922 đồng, nợ lãi quá hạn 39.557.231 đồng, lãi chậm trả 4.280.978 đồng, đồng thời bị đơn còn có nghĩa vụ trả tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho nguyên đơn theo mức lãi suất quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 09/11/2022 cho đến khi bị đơn trả nợ xong.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những lý lẽ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Áp dụng Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Áp dụng Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Áp dụng Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/06/2025 quy định về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;

Áp dụng Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/06/2025 quy định về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;

Áp dụng Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty T1 (Việt Nam).

1.1. Buộc bà Nguyễn Thúy T có trách nhiệm trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền 91.817.326 đồng (chín mươi mốt triệu tám trăm mười bảy ngàn ba trăm hai mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc 29.991.195 đồng, nợ lãi trong hạn 17.987.922 đồng, nợ lãi quá hạn 39.557.231 đồng, lãi chậm trả 4.280.978 đồng.

1.2. Kể từ ngày 12/05/2026, bà Nguyễn Thúy T còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3915006 ngày 09/11/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty T1 (Việt Nam) thì lãi suất mà bà Nguyễn Thúy T phải tiếp tục thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty T1 (Việt Nam).

2. Về án phí:

2.1. Bà Nguyễn Thúy T chịu 4.590.866 đồng (bốn triệu năm trăm chín mươi ngàn tám trăm sáu mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. H1 lại cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.365.644 đồng (một triệu ba trăm sáu mươi lăm ngàn sáu trăm bốn mươi bốn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0036956 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ