- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Phạm Thị Thuỳ D và Nguyễn Đức H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy D đối với anh Nguyễn Đức H.
- Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:934 /2022/HNGĐ - ST Ngày: 15 tháng 12 năm 2022 V/v: Tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Huyền
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Quỳnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 487/2022/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2022 về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thùy D, sinh năm 1987;
Nơi đăng ký HKTT : tổ 1, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: B32 khu đô thị V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Có đơn
xin vắng mặt.
-Bị đơn: Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1987;
Nơi đăng ký HKTT và cư trú :B32 khu đô thịV, phường P, quận H, thành phố
Hà Nội.Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 01 tháng 7 năm 2022, nguyên đơn chị Phạm Thị Thùy D trình bày: Chị và anh Nguyễn Đức H chung sống với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội chứng nhận kết hôn ngày 28/5/2015. Sau kết hôn vợ chồng về chung sống tại B32 khu đô thị V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có nhiều quan điểm không đồng nhất trong cuộc sống vợ chồng cũng như nuôi dạy con cái. Vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhưng không cải thiện được nên quyết định xin ly hôn anh H.
Về con chung: Chị D xác nhận chị và anh H có 02 con chung là Nguyễn Thanh An ( nữ ), sinh ngày 05/11/2015 và Nguyễn Minh Sang ( nam ), sinh ngày 11/9/2017. Ly hôn chị D có nguyện vọng mong muốn được nuôi cả hai con chung. Trường hợp nếu không được nuôi cả hai con chung thì chị xin nuôi cháu Nguyễn Minh Sang và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng tiền học phí gồm cả học chính và học thêm là 15.000.000 đồng.
Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 09/12/2022 anh Nguyễn Đức H trình bày: Anh và chị Phạm Thị Thùy D chung sống với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội chứng nhận kết hôn ngày 28/5/2015. Sau kết hôn vợ chồng về chung sống tại: B32 khu đô thị V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắng tình cảm xong không thể tiếp tục chung sống. Nay chị D xin ly hôn thì anh cũng đồng ý. `
Về con chung: Anh H xác nhận anh và chị D có 02 con chung là Nguyễn Thanh An ( nữ ), sinh ngày 05/11/2015 và Nguyễn Minh Sang ( nam ), sinh ngày 11/9/2017. Ly hôn anh có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung. Lý do anh xin nuôi cả hai con chung là vì từ trước đến nay hai con chung của anh chị đều sống cùng anh và bố mẹ đẻ anh. Trường hợp nếu không được nuôi cả hai con chung thì anh xin được nuôi cháu Nguyễn Thanh An
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án ngày hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy D đối với anh Nguyễn Đức H. Về con chung: Xác nhận chị D và anh H có 02 con chung là Nguyễn Thanh An ( nữ ), sinh ngày 05/11/2015 và Nguyễn Minh Sang ( nam ), sinh ngày 11/9/2017. Giao cho anh H chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh An và chị D chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh Sang. Hai bên không phải chấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, công nợ: Chị D, anh H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét
Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Quá trình Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho nguyên đơn chị Phạm Thị Thùy D và bị đơn anh Nguyễn Đức H để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng chị D và anh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt chị D, anh H.
Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn là anh Nguyễn Đức Hòa có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: B32 khu đô thị V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Nên căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
.Về nội dung:
.Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thùy D và anh Nguyễn Đức H chung sống với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội chứng nhận kết hôn ngày 28/5/2015. Hôn nhân của chị D và anh H là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị D Hội đồng xét xử thấy: Quá trình chung sống vợ chồng cả chị D và anh H đều xác nhận đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc. Nay chị D xin ly hôn anh H thì anh H cũng đồng ý ly hôn.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh H đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị D đối với anh H là có căn cứ chấp nhận và phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Chị D và anh H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thanh An ( nữ ), sinh ngày 05/11/2015 và Nguyễn Minh Sang (nam ), sinh ngày 11/9/2017. Ly hôn cả chị D và anh H đều có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con chung. Trường hợp nếu không được nuôi cả 02 con chung thì chị D đề nghị Tòa án giải quyết để chị được nuôi cháu Nguyễn Minh Sang và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng tiền học phí gồm cả học chính và học thêm là 15.000.000 đồng, còn anh H đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Thanh An và không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con của chị D, anh H, Hội đồng xét xử thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình qui định: “ Giao con cho ai nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con….” . Xét điều kiện nuôi con của chị D, anh Hòa thấy cả chị D và anh H đều có việc làm ổn định, đều có điều kiện và khả năng nuôi con như nhau, nên thiết nghĩ để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt và học tập cho các cháu thì cần giao cho chị D, anh H mỗi người nuôi 01 con chung là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
[2. 3]. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị D và anh H xác nhận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về công nợ: Chị D và anh H xác nhận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu và đề xuất hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Từ nhận định trên!
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Luật số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014.
Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy D đối với anh Nguyễn Đức H.
Chị Phạm Thị Thùy D được ly hôn anh Nguyễn Đức Hòa.
2.Về con chung: Xác nhận chị Phạm Thị Thùy D và anh Nguyễn Đức H có 02 con chung là Nguyễn Thanh An ( nữ ), sinh ngày 05/11/2015 và Nguyễn Minh Sang (nam ), sinh ngày 11/9/2017. Giao cho anh Hòa là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh An và giao cho chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh Sang kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác thay thế. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Chị Phạm Thị Thùy D và anh Nguyễn Đức H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị Phạm Thị Thùy D và anh Nguyễn Đức H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về công nợ: Chị Phạm Thị Thùy D và anh Nguyễn Đức H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Phạm Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Phạm Thị Thùy D đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0010300 ngày 01/7/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt Phạm Thị Thùy D và anh Nguyễn Đức H. Chị Phạm Thị Thùy D và anh Nguyễn Đức H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Hà Đông; - THA quận Hà Đông; - Các đương sự; - UBND phường Phúc La, quận Hà Đông, TP Hà Nội; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Thủy |