vanban.org

Bản án 934/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Xuân H,

Buộc ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 có nghĩa vụ trả cho ông Hoàng Xuân H 7.000.000.000 đồng nợ gốc theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, số công chứng 005358 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và 348.600.000 đồng nợ lãi tính từ ngày 29 tháng 6 năm 2022 đến ngày 29 tháng 12… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "TRANH CHẤP HD VAY TÀI SẢN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Xuân H,
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 934/2022/DS-ST
Ngày: 29-12-2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thái Hoàng

2. Bà Hồ Bích Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Trà – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 761/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7070/2022/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7432/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

- Ông Hoàng Xuân H, sinh năm 1986

Địa chỉ: Số A đường B, khu phố D, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Lê Mạnh H1, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số D Đường D khu dân cư H, tổ H, khu phố F, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

- Ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1978

- Bà Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1978

Cùng địa chỉ: Số B đường N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong Đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 9 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn ông Hoàng Xuân H cho bị đơn ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 vay 9.000.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận, mục đích vay tiền là kinh doanh. Ngày 29 tháng 4 năm 2022 bị đơn xác nhận còn nợ ông Hoàng Xuân H 7.000.000.000 đồng. Nguyên đơn nhiều lần yêu cầu bị đơn trả nợ nhưng bị đơn lẩn tránh, không trả. Đối với số tiền 2.000.000.000 đồng tại Biên bản xác nhận và đối chiếu công nợ đề ngày 29 tháng 4 năm 2022 có nội dung ông H sẽ chuyển khoản thêm vào tài khoản của bà Nguyễn Thị Thanh H2 thì ông xin rút yêu cầu này. Do đó, nay nguyên đơn ông Hoàng Xuân H yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 7.000.000.000 đồng còn nợ theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022 và tiền lãi chậm trả từ ngày 29 tháng 6 năm 2022 đến ngày 29 tháng 12 năm 2022 theo lãi suất 10%/năm là 348.600.000 đồng.

Nguyên đơn ông Lê Mạnh H1 cho bị đơn ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 vay 4.000.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, thời hạn vay 02 tháng, lãi suất tự thỏa thuận, mục đích vay tiền là kinh doanh. Ngày 29 tháng 4 năm 2022 bị đơn xác nhận còn nợ ông H1 4.000.000.000 đồng. Ông H1 đã nhiều lần yêu cầu bị đơn trả nợ nhưng bị đơn luôn trốn tránh, không trả nợ. Do đó, nay nguyên đơn ông Lê Mạnh H1 yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 4.000.000.000 đồng còn nợ theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022 và tiền lãi chậm trả từ ngày 29 tháng 6 năm 2022 đến ngày 29 tháng 12 năm 2022 theo lãi suất 10%/năm là 199.200.000 đồng.

- Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 cùng cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình, cũng như không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bị đơn phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ được quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.

Bà Hoàng Thị Hồng U là vợ của ông Hoàng Xuân H đã có văn bản trình bày số tiền vay giữa ông H và bị đơn là số tiền riêng của ông H, đề nghị Tòa án không đưa bà tham gia tố tụng trong vụ án trên. Xét bà U là người không khởi kiện, không bị kiện và việc giải quyết vụ án dân sự trên không liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bà, bản thân bà hoặc các đương sự khác không đề nghị bà U tham gia tố tụng. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không đưa bà Hoàng Thị Hồng U vào tham gia tố tụng vụ án trên với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bà Trần Thị Minh N là vợ của ông Lê Mạnh H1 đã có văn bản trình bày số tiền vay giữa ông H1 và bị đơn là số tiền riêng của ông H1, đề nghị Tòa án không đưa bà tham gia tố tụng trong vụ án trên. Xét bà N là người không khởi kiện, không bị kiện và việc giải quyết vụ án dân sự trên không liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bà, bản thân bà hoặc các đương sự khác không đề nghị bà N tham gia tố tụng. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không đưa bà Trần Thị Minh N vào tham gia tố tụng vụ án trên với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung vụ án:

Xét Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, có số công chứng 005358 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Hoàng Xuân H và bị đơn có nội dung bị đơn vay 9.000.000.000 đồng, thời hạn vay 02 tháng, từ ngày 29 tháng 4 năm 2022 đến ngày 29 tháng 6 năm 2022.

Xét Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, có số công chứng 005359 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Lê Mạnh H1 và bị đơn có nội dung bị đơn vay 4.000.000.000 đồng, thời hạn vay 02 tháng, từ ngày 29 tháng 4 năm 2022 đến ngày 29 tháng 6 năm 2022.

Xét Biên bản xác nhận và đối chiếu công nợ ngày 29 tháng 4 năm 2022 có nội dung bị đơn xác nhận còn nợ ông Hoàng Xuân H và ông Lê Mạnh H1 số tiền 11.000.000.000 đồng và ngày 03 tháng 5 năm 2022 sẽ chuyển khoản thêm 2.000.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng C1.

Xét trong quá trình giải quyết vụ án ông Hoàng Xuân H và ông Lê Mạnh H1 đều thừa nhận ông H chưa chuyển khoản thêm 2.000.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng C1, chủ tài khoản là bà Nguyễn Thị Thanh H2 theo nội dung Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022.

Xét nguyên đơn ông Hoàng Xuân H không yêu cầu giải quyết đối với số tiền 2.000.000.000 đồng sẽ chuyển khoản thêm theo Biên bản xác nhận và đối chiếu công nợ ngày 29 tháng 4 năm 2022.

Nay ông Hoàng Xuân H yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền 7.000.000.000 đồng nợ gốc theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, có số công chứng 005358 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Lê Mạnh H1 yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền 4.000.000.000 đồng nợ gốc theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, có số công chứng 005359 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Về tiền lãi:

Theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, có số công chứng 005358 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Hoàng Xuân H và bị đơn không thỏa thuận lãi suất. Xét ông Hoàng Xuân H chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền lãi theo lãi suất 0.83%/tháng tương đương 10%/năm là phù hợp với khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên có cơ sở chấp nhận.

Theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, có số công chứng 005359 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Lê Mạnh H1 và bị đơn không thỏa thuận lãi suất. Xét ông Lê Mạnh H1 chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền lãi theo lãi suất 0.83%/tháng tương đương 10%/năm là phù hợp với khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên có cơ sở chấp nhận.

Ông Hoàng Xuân H và ông Lê Mạnh H1 chỉ yêu cầu tính lãi trên số nợ gốc kể từ ngày 29 tháng 6 năm 2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Xét việc tính thời điểm tính lãi này là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của ông H và ông H1.

Tiền lãi bị đơn phải trả cho ông Hoàng Xuân H từ ngày 29 tháng 6 năm 2022 đến ngày 29 tháng 12 năm 2022 theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, số công chứng 005358 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh là 7.000.000.000 đồng x 0.83%/tháng x 6 tháng = 348.600.000 đồng.

Tiền lãi bị đơn phải trả cho ông Lê Mạnh H1 từ ngày 29 tháng 6 năm 2022 đến ngày 29 tháng 12 năm 2022 theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, số công chứng 005359 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh là 4.000.000.000 đồng x 0.83%/tháng x 6 tháng = 199.200.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 68, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Xuân H,

Buộc ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 có nghĩa vụ trả cho ông Hoàng Xuân H 7.000.000.000 đồng nợ gốc theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, số công chứng 005358 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và 348.600.000 đồng nợ lãi tính từ ngày 29 tháng 6 năm 2022 đến ngày 29 tháng 12 năm 2022.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Mạnh H1,

Buộc ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 có nghĩa vụ trả cho ông Lê Mạnh H1 4.000.000.000 đồng nợ gốc theo Hợp đồng vay tiền ngày 29 tháng 4 năm 2022, số công chứng 005359 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và 199.200.000 đồng nợ lãi tính từ ngày 29 tháng 6 năm 2022 đến ngày 29 tháng 12 năm 2022.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Ông Hoàng Xuân H và ông Lê Mạnh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho ông Hoàng Xuân H và ông Lê Mạnh H1 60.708.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số AA/2022/0000415 ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 119.547.800 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ