- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 931/2018/HNGĐ-ST Ngày: 28/08/2018 |
QUẬN THỦ ĐỨC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Phụng 2. Ông Chu Mạnh Tường -Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức. -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng- Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 924/2017/TLST- HNGĐ ngày 10/10/2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 219/2018/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2018, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Lương Linh H, sinh năm 1986 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: 01 E, đường X, khu phố 9, phường T, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1984 (vắng mặt) Địa chỉ 1: 43 đường Y, khu phố 3, phường L, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ 2: 01 E, đường X, khu phố 9, phường T, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ 3: 23/44 đường B, khu phố 4, phường T, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lương Linh H trình bày: bà và ông Nguyễn Đức T tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2006,
do hai bên tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận TĐ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/10/2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, khoảng đầu năm 2012 cho đến nay vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chính là do tính tình vợ chồng không hòa hợp có nhiều quan điểm bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Hai bên sống ly thân từ tháng 11/2015 cho đến nay. Bà nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn được, đời sống chung mâu thuẫn trầm trọng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông T; Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày: 28/10/2012 và Nguyễn Khánh H, sinh ngày – 25/7/2008, bà H yêu cầu trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết Về nợ chung: bà H xác định không có. Bị đơn ông Nguyễn Đức T đã được Tòa án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đến Tòa án để viết bản tự khai nhưng bị đơn không hợp tác, không đến Tòa án do đó không có lời khai của bị đơn. Thực hiện đúng thủ tục tố tụng, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng cư trú, niêm yết hợp lệ theo quy định, tiến hành đưa vụ án ra xét xử, đã triệu tập hợp lệ bị đơn hai lần mà bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn bà Lương Linh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng; việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa bà Lương Linh H với ông Nguyễn Đức T là tranh chấp ly hôn. Bị đơn cư trú tại quận Thủ Đức, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2]. Về sự có mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Lương Linh H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Đức T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần mà bị đơn vẫn vắng mặt
tại phiên tòa. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [3]. Về các yêu cầu của nguyên đơn: - Đối với yêu cầu được ly hôn. Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 158 quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân phường T, quận TĐ cấp ngày 27/10/2006, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H với ông T là hôn nhân hợp pháp. Bà H cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chính là do tính tình vợ chồng không hòa hợp có nhiều quan điểm bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Xét yêu cầu của nguyên đơn xin được ly hôn là có căn cứ, bởi lẽ tình cảm của vợ chồng được xây dựng bởi tình yêu chân chính. Trong cuộc sống, vợ chồng phải chăm sóc và thương yêu lẫn nhau, nhưng thực tế cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nguyên đơn cố gắng hàn gắn, khuyên nhủ nhưng không có kết quả, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu sống chung cũng không mang lại hạnh phúc. Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn và tại văn bản số 199/LĐTB ngày 26/02/2018 của Phòng lao động thương binh và xã hội thuộc Ủy ban nhân dân quận TĐ thì bà Lương Linh H và ông Nguyễn Đức T là vợ chồng sống tại địa chỉ số 01 E, đường X, khu phố 9, phường T, quận TĐ, cả hai có người con chung là cháu Nguyễn Khánh H (sinh năm 2008) và cháu Nguyễn Đức T (sinh năm 2012). Hiện nay, cháu H và cháu T đang sống cùng với mẹ tại 01 E, đường X, khu phố 9, phường T, quận TĐ, ông T vẫn thường xuyên đưa 02 con đi học mỗi ngày. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập hòa giải để hai bên đoàn tụ, nhưng bị đơn vắng mặt, thể hiện bị đơn không có thiện chí đoàn tụ. Do đó yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với yêu cầu trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng: Lời khai của bà Lương Linh H và bản sao giấy khai sinh đã thể hiện bà H và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày: 28/10/2012 và Nguyễn Khánh H, sinh ngày – 25/7/2008. Hội đồng xét xử thấy rằng 02 con chung hiện đang sống ổn định với bà H, ông T không đến Tòa án, không có nguyện vọng được nuôi con do đó cần phải duy trì sự ổn định về mọi mặt của con và cũng tạo điều kiện cho con phát triển và vì lợi ích của con nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần giao 02 con chung cho bà Lương Linh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Và điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung Nguyễn Khánh H là có nguyện vọng muốn được sống với mẹ của mình. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con: Đây là sự tự nguyện của bà H và sự tự nguyện này không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận. - Về tài sản chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về nợ chung: bà H xác định không có. Đối với bị đơn được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xét.
. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014), Tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: -Về hôn nhân: Bà Lương Linh H được ly hôn với ông Nguyễn Đức T. -Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày: 28/10/2012 và Nguyễn Khánh H, sinh ngày – 25/7/2008 cho bà Lương Linh H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông Nguyễn Đức T cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng. - Về tài sản chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về nợ chung: bà H xác nhận không có. 2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lương Linh H phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0037126 ngày 10/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, bà H đã nộp đủ án phí. 3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: -TAND TP.HCM; -VKSND quận Thủ Đức; - Cơ quan đăng ký kết hôn; -THADS quận Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu VP, HS. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Thủy Thẩm phán-Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thu Thủy |