- Tranh chấp gì? "Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội "Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356; Điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 93/2022/HS-PT Ngày 07 tháng 12 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Tuấn
Các thẩm phán:
Ông Tạ Văn Thành
Ông Phạm Văn Toàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2022/TLPT-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T đối với Bản án hình sơ thẩm số 26/2022/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/10/1981 tại huyện T, Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT + Chỗ ở hiện nay: Khu 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Bố: Nguyễn Văn S – Sinh năm 1955. Mẹ: Nguyễn Thị D – Sinh năm 1955. Anh chị em ruột: gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là thứ 4; Vợ: Cao Thanh Uyên – Sinh năm 1983. - Con: Có 2 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, Tiền sự: Không
Lịch sử bản thân:
- Ngày 26/10/2011 Công an quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt hành chính số 226114 xử phạt Nguyễn Đức T 350.000đ về hành vi đánh bạc. Nguyễn Đức T đã chấp hành xong ngày 28/10/2011.
- Tại bản án số 126 ngày 27/9/2014 của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội xử phạt Nguyễn Đức T 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/7/2015.
- Tại bản án số 51 ngày 28/9/2017 của Toà án nhân dân huyện T xử phạt Nguyễn Đức T 3 tháng tù về tội Đánh bạc, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/6/2018.
Bị cáoT bị bắt tạm giữ từ ngày 19/02/2022 đến ngày 25/02/2022 thì được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/02/2022, Công an huyện T nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc quán tạp hoá của Nguyễn Hữu T – Sinh năm 1983, ở khu 1 xã Bảo Yên có một số đối tượng đánh bạc bằng hình thức chơi bi được thua bằng tiền. Hồi 17 giờ 00 phút, Công an huyện T tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt quả tang 5 đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức chơi bi a được thua bằng tiền gồm: Nguyễn Đức T - Sinh năm 1981, ở Khu 1 thị trấn T, Nguyễn Văn H – Sinh năm 1993, ở xã L, huyện T; Vũ Mạnh C – Sinh năm 1996, ở xã V huyện T; Nguyễn Hữu M – Sinh năm 1985, ở TP P, tỉnh V và Nguyễn Văn Á – Sinh năm 1990, HKTT ở huyện N, tỉnh H. Tại thời điểm kiểm tra có mặt Nguyễn Hữu T và Đinh Công C – Sinh năm 1978, ở khu 7 xã Tu Vũ. Thu giữ tại nơi các đối tượng đánh bạc 13 quân tú lơ khơ từ A đến K chất rô, 16 viên bi a được đánh số từ 1 đến 15 trong đó có 2 viên bi số 05, 02 gậy bi a bằng gỗ mỗi gậy dài 1,49m, 01 bàn bi a kích thước 2,7mx1,55mx0,81m mặt bàn bằng đá bọc nỉ màu xanh, phần đế và ốp xung quanh bằng gỗ sơn màu đen có dòng chữ bi a Trịnh Uyên. Các đối tượng tự giác giao nộp: T giao nộp số tiền 60.000đ, 1 ĐTDĐ OPPO Reno6 5G lắp sim số 0981.714.626. H giao nộp số tiền 5.900.000đ, 1 ĐTDĐ Iphone 7 Plus lắp sim số 0964.109.799, có ốp nhựa màu nâu, bên trong ốp có số tiền 2.100.000đ. C giao nộp 5.560.000đ, 1 ĐTDĐ Iphone 11 Pro max màu vàng không lắp sim, 1 ĐTDĐ OPPO A5s màu xanh lắp sim số 0962.219.896, 01 ví giả da màu nâu bên trong có 01 thẻ CCCD mang tên Vũ Mạnh C. Ánh giao nộp số tiền 200.000đ, 1 ĐTDĐ Iphone 6S màu xám cũ lắp sim số 0981.509.918, 1 ĐTDĐ Nokia 1280 màu đen lắp sim số 0962.435.342. M giao nộp 600.000đ, 1 ĐTDĐ Sony XA màu đen lắp sim số 0913.888.745.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận nội dung vụ án như sau: Khoảng 11 giờ ngày 19/02/2022, Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hữu M, Nguyễn Văn Á đến cửa hàng tạp hoá và cơm bình dân của gia đình anh Nguyễn Hữu T tại khu 1, xã Bảo Yên, huyện T để ăn cơm, nghỉ trưa. Thời điểm đó, đang có một nhóm thanh niên đang chơi bi – a tại bàn bi – a trong phòng khách của gia đình anh T. Sau khi ăn cơm xong, Ánh rủ M, T, H đánh bạc bằng hình thức chơi bi – a được thua bằng tiền thì mọi người đồng ý. Á đến bàn bi – a có một số thanh niên đang chơi bi a, Á dùng gậy bi - a phá bàn và yêu cầu nhóm thanh niên đó nghỉ chơi để cho nhóm của Ánh chơi. Khi nhóm thanh niên đó rời đi, Ánh cùng T, M và H đánh bạc dưới hình thức chơi bi – a được thua bằng tiền. Cả nhóm thống nhất với nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bi – a được thua bằng tiền kết hợp bài lá với cách thức chơi và tỷ lệ cá cược như sau: Người chơi sử dụng 13 quân bài tú lơ khơ chất Rô từ A đến K trong bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 16 viên bi – a từ 1 đến 15 (gồm 02 viên bi – a cùng số 5) để đánh bạc. Trong đó, mỗi lá bài từ A đến K sẽ tương ứng với mỗi viên bi từ 1 đến 13; trong 02 viên bi cùng số 5 sẽ quy ước 01 viên là bi cái (do bàn bi – a bị thiếu bi cái). Khi tham gia đánh bạc, mỗi người chơi sẽ bốc 1 lá bài, nhiệm vụ của người chơi là đánh viên bi tương ứng với lá bài đó xuống các lỗ trong bàn bi – a. Ai đánh được bi tương ứng với lá bài mình bốc được xuống lỗ trước thì người đó T. Khi đó, những người chơi còn lại sẽ trả cho người T số tiền 100.000đ/ 1 người/ 1 ván. Khi bắt đầu chơi, tất cả những người chơi cùng bốc bài để phân định thứ tự người chơi theo giá trị lá bài bốc được từ cao đến thấp. Theo đó, thứ tự người chơi lần lượt là Ánh, T, M, H. Khi kết thúc ván chơi các đối tượng sẽ lấy tiền ra để thanh toán T thua với nhau. Sau đó lại cất tiền vào trong người và tiếp tục đánh bạc. Quá trình đánh bạc các đối tượng để tiền trong người, sau khi kết thúc ván chơi sẽ lấy tiền ra thanh toán T thua. Đến khoảng 13 giờ, Vũ Mạnh C đến quán và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Đến khoảng 14 giờ do bận việc cá nhân nên M nghỉ đánh bạc và rời khỏi quán. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, M quay lại quán và tiếp tục sử dụng số tiền lúc trước để đánh bạc cùng các đối tượng trên. Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hữu M, Nguyễn Văn Á và Vũ Mạnh C đánh bạc đến 17 giờ 00 phút thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật nêu trên.
Về số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc, các đối tượng khai nhận như sau:Khi tham gia đánh bạc,Nguyễn Đức Tsử dụngsố tiền 1.060.000đ để đánh bạc, Nguyễn Văn H sử dụng số tiền2.900.000đ để đánh bạc, Vũ Mạnh C sử dụng số tiền5.660.000đ để đánh bạc, Nguyễn Văn Á sử dụng số tiền 1.700.000đ để đánh bạc, Nguyễn Hữu M sử dụng số tiền 1.000.000đ để đánh bạc. Đối với số tiền 2.100.000đ thu giữ bên trong ốp nhựa điện thoại Iphone 7Plus của H, số tiền trên H khai nhận là tiền ăn cơm của anh em công nhân làm cùng H, không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Do đó, xác định tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 12.320.000đ.
Căn cứ hành vi phạm tội của các đối tượng, ngày 25/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hữu M, Nguyễn Văn và Vũ Mạnh C về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nên trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với người liên quan và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 07 (Bẩy) tháng tù. Được trừ thời hạn tạm giữ 06 ngày (từ ngày 19/02/2022 đến ngày 25/02/2022). Bị cáo còn phải chấp hành 06 (Sáu) tháng 24 (Hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Đức T.
Ngày 03/8/2022: Bị cáo Nguyễn Đức T kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355l; Điều 356 Bộ luật hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.
Bị cáo đã được Tòa án cấp phúc thẩm tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa xét xử vào các ngày 26/10/2022, ngày 10/11/2022 và ngày 07/12/2022 nhưng bị cáo đều không có mặt. Căn cứ điểm b,c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định:
Ngày 19/02/2022, tại quán tạp hoá của anh Nguyễn Hữu T – Sinh năm 1983, ở khu 1 xã Bảo Yên, huyện T, Nguyễn Đức T - Sinh năm 1981, ở Khu 1 thị trấn T, Nguyễn Văn H – Sinh năm 1993, ở xã L, huyện T; Vũ Mạnh C – Sinh năm 1996, ở xã V, huyện T; Nguyễn Hữu M – Sinh năm 1985, ở TP P, tỉnh V và Nguyễn Văn Á – Sinh năm 1990, HKTT ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đã có hành vi Đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bi a kết hợp bài lá được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 12.320.000đ
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, 02 lần bị kết án về hành vi đánh bạc và hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo rất coi thương kỷ cương pháp luật. Căn cứ theo định tại Điều 1 Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP, 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo không thuộc trường hợp cho hưởng án treo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt bị cáo 07 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, không có thêm tình tiết gì mới để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356; Điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.
[2] Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội "Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 07 (Bảy) tháng tù. Được trừ thời hạn tạm giữ 06 ngày (từ ngày 19/02/2022 đến ngày 25/02/2022). Bị cáo còn phải chấp hành 06 (Sáu) tháng 24 (Hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Đức T.
[3] Về án phí: Áp dụng Điểm a Khoản 2 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Phú Thọ; - TAND Huyện T; - VKSND Huyện T; - Công an Huyện T; - Chi cục THADS Huyện T; - Bị cáo; - Lưu HS; Lưu VP. CÁC THẨM PHÁN Tạ Văn Thành Phạm Văn Toàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Anh Tuấn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Anh Tuấn |