- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cao C - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2026/HS-ST Ngày 28-5-2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Ngọc Tân
2. Ông Phạm Tiến Trung
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Cao C, sinh ngày 24/6/1991, tại xã Ứ, thành phố Hà Nội
Nơi cư trú: thôn K, xã Ứ, thành phố Hà Nội; Căn cước công dân số: 017091001915 cấp ngày 29/12/2025; nơi cấp: Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội-Bộ C2; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vĩnh B, đã chết và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; Nhân thân: Bản án số 165/2009/HSST, ngày 02/10/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình (cũ) xử phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, thi hành xong án phí ngày 22/3/2010, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/01/2010, đã được xóa án tích. Quyết định số 119/QĐ-XPHC, ngày 13/6/2023 của Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình (cũ) xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong quyết định ngày 20/7/2023.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định số 10/QĐ-XPHC, ngày 28/5/2009 của Công an phường Đ, thành phố H (cũ) xử phạt 100.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa thi hành quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/02/2026 đến ngày 09/02/2026 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh H (có mặt).
Những người chứng kiến:
1. Anh Đỗ Quốc T1, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Cư trú: thôn Q, xã Q, tỉnh Hưng Yên.
2. Anh Nguyễn Viết H, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Cư trú: thôn Q, xã Q, tỉnh Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 15 phút ngày 03/02/2026, tổ công tác Công an xã Q, tỉnh Hưng Yên làm nhiệm vụ tại đường T, xã Q, tỉnh Hưng Yên phát hiện Nguyễn Cao C đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma túy đã yêu cầu kiểm tra. Trước đại diện Ủy ban nhân dân xã Q, người chứng kiến anh Đỗ Quốc T1 và anh Nguyễn Viết H, C giao nộp 01 gói ngoài giấy tráng kim màu bạc bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, khai là ma túy, loại H1, mua với số tiền 200.000 đồng, để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra người C không có đồ vật, tài liệu liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu mẫu nước tiểu, niêm phong gói vật chứng trưng cầu giám định. Ngày 04/02/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Cao C tại thôn K, xã Ứ, thành phố Hà Nội không có đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 384/KL-KTHS, ngày 07/02/2026 của Phòng K Công an tỉnh H: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) và Nghị định 28/2026/NĐ-CP, ngày 19/01/2026 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất, có khối lượng 0,1514 gam. Heroin STT: 14, danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 28/2026/NĐ-CP, ngày 19/01/2026 của Chính Phủ”.
Kết luận giám định số 383/KL-KTHS, ngày 07/02/2026 của Phòng K Công an tỉnh H: “Trong mẫu nước tiểu gửi giám định có tìm thấy ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine STT: 267, danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 28/2026/NĐ-CP, ngày 19/01/2026 của Chính Phủ”.
Bản Cáo trạng số 53/CT- VKS-KV8 ngày 08/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Cao C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 (viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Cao C khai: Bản thân sử dụng trái phép chất ma túy đầu năm 2025, chưa cai nghiện, không điều trị nghiện chất ma túy bằng thuốc thay thế. Chiều ngày 03/02/2026, C đi xe khách từ Hà Nội về xã Q, tỉnh Hưng Yên, để tìm việc làm. Xuống xe, C đi bộ lang thang ở đường T, xã Q, tỉnh Hưng Yên, gặp hỏi mua của người đàn ông giới thiệu là T2 đi bộ mặc áo kín, đeo khẩu trang, 01 gói ma túy ngoài là giấy tráng kim màu bạc với số tiền 200.000 đồng. C giấu gói ma túy ở lòng tay phải, đi bộ về phía thôn Q 5 tìm chỗ vắng sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Q, tỉnh Hưng Yên yêu cầu kiểm tra. Trước đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến, C đưa gói ma túy ra giao nộp. Tổ công tác đã kiểm tra người, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói ma túy.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; xử phạt bị cáo C từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/02/2026; về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 384/KL-MT của Phòng K Công an tỉnh H. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh H; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục số 01 - 02, 05); Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định (bút lục số 07); Biên bản xác minh (bút lục số 74); Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến anh Đỗ Quốc T1 và anh Nguyễn Viết H (bút lục số 110 - 115), cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 03/02/2026, tại đường T, xã Q, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Cao C có hành vi tàng trữ trái phép 0,1514 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C1, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực điều khiển hành vi của mình, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán…trái phép chất ma túy, để thoả mãn cơn nghiện bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, bị cáo có nhân thân xấu. Từ những phân tích trên, HĐXX, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo nói riêng và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo tàng trữ ma túy, mục đích là để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Nguồn gốc gói ma túy bị cáo Nguyễn Cao C khai mua của người đàn ông giới thiệu là T2 đi bộ mặc áo kín, đeo khẩu trang, ở đường T, xã Q, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh do không xác định được danh tính nên không đủ căn cứ để xử lý.
Về xử lý vật chứng: 0,1204 gam là ma túy, loại Heroin trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 384/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H quản lý của bị cáo C là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Nguyễn Cao C khai đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine ở khu vực đường tàu thành phố Hải Phòng trước đó khoảng 03 ngày. Do không xác định được địa danh và cũng không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã không xử lý về hành vi trên.
Bị cáo C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/2/2026.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Tịch thu để tiêu huỷ 0,1204 gam ma túy, loại Heroin trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 384/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H (Vật chứng trên do Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 tỉnh Hưng Yên đang quản lý)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: Bị cáo Nguyễn Cao C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - VKSND khu vực 8 - Hưng Yên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hưng Yên; - Phòng THADS khu vực 8- Hưng Yên; - Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Nhàn |