vanban.org

Bản án 93/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 05/8/2025. Xử lý vật chứng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2025/HS-ST
Ngày: 15-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đổng Thị Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nhật Chiến.

Ông Đỗ Anh Đại.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Vy Tiến Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025, đối với:

Bị cáo Triệu T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 07/12/2002, tại tỉnh Lạng Sơn; Căn cước công dân số: 020202008137, ngày cấp: 02/7/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Khối L, phường K, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Triệu T (đã chết) và bà Lý T, sinh năm 1963; Vợ, con: Không; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/8/2025, tạm giam từ ngày 08/8/2025 đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Khối L, phường K, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Mai L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 45 phút, ngày 05/8/2025, Công an phường Đ, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Phòng Cảnh sát ma tuý, Công an tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực đường N, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn phát hiện 01 (một) nam thanh niên điều khiển xe mô tô biển số 12P1-026.09 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra, qua kiểm tra nam thanh niên tên là Triệu T, phát hiện ở baga trước yên xe mô tô 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng chứa 02 (hai) viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng, nghi là chất ma túy tổng hợp. Triệu T khai nhận viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng là ma túy “đá, ngựa”, do Triệu T mua về để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an đã đưa Triệu T về trụ sở Công an phường Đ, tỉnh Lạng Sơn để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Tang vật, đồ vật thu giữ: 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng, kích thước 9cm x 5,5cm, bên trong có chứa 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước 2cm x 2cm, bên trong chứa 02 (hai) viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng, nghi là chất ma túy; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng – bạc – đen, biển kiểm soát 12P1-026.09, số khung RLHHC1208BY449489, số máy HC12E3249537 (xe cũ đã qua sử dụng).

Tại bản Kết luận giám định số 631/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đã kết luận về đối tượng giám định, cụ thể: 02 (hai) viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng có trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,335 gam (đã trừ bì).

Qua xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể xác định, ngày 05/8/2025 Triệu T dương tính với chất ma túy MET.

Tại cơ quan điều tra, Triệu T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Bản thân Triệu T sử dụng ma túy từ tháng 7/2025 đến nay. Khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 05/8/2025, Triệu T một mình đi đến khu vực ngã tư Mỹ Sơn, phường Đ mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Triệu T gặp một người đàn ông không quen biết, qua nói chuyện biết người đàn ông này có chỗ mua ma tuý, Triệu T đưa cho người này 300.000 đồng nhờ mua ma tuý “đá, ngựa”. Sau đó theo hẹn, khoảng 30 phút sau, Triệu T điều khiển xe đến đầu ngõ khách sạn Diamond trên đường N, phường Đ, tại đây Triệu T thấy bao thuốc lá Thăng Long mà người đàn ông để đầu ngõ cạnh bờ tường. Triệu T nhặt rồi mở ra thì thấy bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng chứa 02 (hai) viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng. Triệu T kẹp cất giấu bao thuốc lá chứa chất ma tuý vào baga trước yên xe mô tô rồi điều khiển xe về nhà để sử dụng ma tuý. Khi đi đến khu vực trước số 126 đường N, phường Đ thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang .

Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Triệu T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Triệu T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng hình sự): Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói cũ. Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng – bạc – đen, biển kiểm soát 12P1-026.09, số khung RLHHC1208BY449489, số máy HC12E3249537 (xe cũ đã qua sử dụng) cho chủ sở hữu là ông Hoàng Văn T.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.

Lời nói sau cùng, bị cáo có ý kiến: Bị cáo đã biết sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hoàng Văn T, người chứng kiến ông Mai L. Ông Hoàng Văn T và ông Mai L đã có lời khai trong hồ sơ, ông Hoàng Văn T đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Hoàng Văn T và ông Mai L theo quy định tại các điều 292, 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản lời khai, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 00 giờ 45 phút ngày 05/8/2025 tại khu vực đường N, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn, Triệu T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,335 gam chất ma túy Methamphetamine để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long ở baga trước xe mô tô biển kiểm soát 12P1-026.09, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo Triệu T có đầy đủ năng lực hành vi, do vậy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đối với bị cáo Triệu T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết tội bị cáo Triệu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân và tạo tiền đề cho các hành vi phạm tội khác, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và biết hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì vậy đối với hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 24/9/2025 tại địa phương thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu huỷ đối với số ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói cũ.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng – bạc – đen, biển kiểm soát 12P1-026.09, số khung RLHHC1208BY449489, số máy HC12E3249537, xe cũ đã qua sử dụng. Qua xác minh thuộc sở hữu của ông Hoàng Văn T. Ngày 05/8/2025, ông Hoàng Văn T giao xe cho Triệu T mượn, không biết việc Triệu T dùng xe để đi mua ma tuý. Tại Cơ quan điều tra, ông Hoàng Văn T đề nghị được nhận lại chiếc xe trên do đó, căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại cho ông Hoàng Văn T.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Triệu T vào ngày 05/8/2025 tại khu vực ngã tư Mỹ Sơn, đường N, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn, do không có thông tin địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh để điều tra trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; các điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 05/8/2025.

3. Xử lý vật chứng

3.1 Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì có chữ viết tay ghi họ tên Triệu T (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 gói giấy đựng 0,135 gam Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định); 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng, kích thước 9cm x 5,5cm.

3.2. Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng – bạc – đen, biển kiểm soát 12P1-026.09, số khung RLHHC1208BY449489, số máy HC12E3249537 (xe cũ đã qua sử dụng) cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hoàng Văn T.

( Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19 tháng 11 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bị cáo Triệu T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ