- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Bé - Lê Hoài Thương"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị B đối với anh Lê Hoàng Th.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - CM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2025 (V/v: Tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con chung) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Hồng Diễm
Các hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Trần Văn Phước
2/. Ông Trần Thanh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Ông Tô Hoàng Kha – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 – CM.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – CM tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc, Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – CM xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị B, sinh ngày 15/12/1989
Địa chỉ: Ấp XD, xã NTL, tỉnh CM.
Bị đơn: Anh Lê Hoàng Th, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp XD, xã NTL, tỉnh CM.
(Chị B có đơn xin vắng mặt, anh Th vắng mặt lần 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2025, bản tự khai và các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Dương Thị B trình bày: Vào năm 2010, được sự cho phép của hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương cho chị và anh Th nên vợ thành chồng, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, sau đó chị và anh Th có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã NTL, huyện Hồng Dân cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.
Nguyên nhân mâu thuẫn để nay chị yêu cầu xin ly hôn với anh Th là do tính tình giữa hai người không hòa hợp, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc. Anh Th chỉ biết sống cho bản thân mình, không biết quan tâm đến cuộc sống gia đình, không quan tâm đến vợ con. Từ đó, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Hiện tại chị và anh Th đã sống ly thân với nhau nên nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên nay chị yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Hoàng Th.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng, chị và anh Th chung sống với nhau có 02 người con chung tên Lê Khánh B, sinh ngày 06/3/2008 và Lê Dương Phúc A, sinh ngày 13/11/2017. Hiện tại cháu Khánh B đang sống cùng với chị B, còn cháu Phúc A thì sống cùng với anh Th. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu B và đồng ý giao cháu Anh cho anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Chị không yêu cầu anh Th phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị B xác định vợ chồng chung sống với nhau không có tạo lập tài sản chung và cũng không có nợ ai nên khi ly hôn chị không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lê Hoàng Th: Mặc dù anh Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Th vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh Th theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – CM phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn chị Dương Thị B là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Lê Hoàng Th chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Chị B và anh Th kết hôn với nhau vào năm 2010, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hiện tại anh chị mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Xét thấy, hôn nhân của chị B và anh Th nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị B được ly hôn với anh Th là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng, chị B và anh Th chung sống với nhau có 02 người con chung tên Khánh B và Phúc A. Từ khi anh chị sống ly thân với nhau đến nay thì cháu B sống cùng với chị B, còn cháu A sống cùng với anh Th. Hiện tại cuộc sống của cả 02 cháu B và A đều ổn định. Do đó, cần tiếp tục giao cháu Lê Khánh B, sinh ngày 06/3/2008 cho chị B được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục, giao cháu Lê Dương Phúc A, sinh ngày 13/11/2017 cho anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Cả chị B và anh Th có quyền thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị B không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Nay ly hôn chị B và anh Th không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình chị Dương Thị B phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Dương Thị B có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con với anh Lê Hoàng Th, anh Th có địa chỉ cư trú tại xã NTL, tỉnh CM. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 9 – CM.
[1.1] Chị Dương Thị B có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị B.
[1.2] Anh Lê Hoàng Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh Th vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Th.
[2] Về nội dung vụ án: Chị B và anh Th kết hôn với nhau vào năm 2010, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, sau đó anh chị có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã NTL, huyện Hồng Dân cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị B đối với anh Th thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu Th, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng chị B và anh Th lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn. Hiện tại chị B và anh Th đã sống ly thân với nhau khoảng hơn 09 năm nay. Thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện ý chí anh chị mong muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Như vậy, chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị B và anh Th là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B đối với anh Th là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị B và anh Th chung sống với nhau có 02 người con chung tên Lê Khánh B, sinh ngày 06/3/2008 và Lê Dương Phúc A, sinh ngày 13/11/2017. Nay ly hôn chị B yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Khánh B, không yêu cầu anh Th phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và đồng ý giao cháu Phúc A cho anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ lúc chị B và anh Th sống ly thân với nhau đến nay thì cháu B sống cùng với chị B, còn cháu A sống cùng với anh Th, trong khoảng thời gian sống ly thân với nhau cả hai anh chị vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển ổn định về tinh thần cũng như vật chất cho con, điều này thể hiện anh chị đã chăm lo, nuôi dưỡng, giáo dục con rất chu đáo. Mặt khác, qua tiếp xúc với cháu Khánh B thì cháu có nguyện vọng mong muốn được sống cùng với chị B khi chị B và anh Th ly hôn với nhau. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống của con và làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của con chưa thành niên nên căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tiếp tục giao người con tên Lê Khánh B, sinh ngày 06/3/2008 cho chị B được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; Giao người con tên Lê Dương Phúc Anh, sinh ngày 13/11/2017 cho anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Chị B và anh Th không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị B và anh Th có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Dương Thị B và anh Lê Hoàng Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Dương Thị B phải chịu theo quy định của pháp luật.
[7] Từ những nhận định nêu trên xét đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – CM về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị B đối với anh Lê Hoàng Th. Xử cho chị Dương Thị B được ly hôn với anh Lê Hoàng Th.
2/. Về con chung: Giao người con tên Lê Khánh B, sinh ngày 06/3/2008 cho chị B được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; Giao người con tên Lê Dương Phúc A, sinh ngày 13/11/2017 cho anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện tại cháu B đang sống cùng với chị B, cháu Anh đang sống cùng với anh Th nên được giữ nguyên.
Chị B và anh Th không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị B và anh Th có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
4/. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Dương Thị B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011409 ngày 07 tháng 7 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 9 - CM.
5/. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh CM; - VKSND Khu vực 9 – CM; - Phòng thi hành án dân sự Khu vực 9 - CM; -UBND xã NTL; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Trương Hồng Diễm |