vanban.org

Bản án 93/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn H.

Về con chung: Giao con chung là Vũ Thị Ngọc Á, sinh ngày 02/6/2012 cho chị Nguyễn Thị Hường trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao anh Vũ Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Vũ Thị Ngọc Diễm sinh ngày 24/11/2014, Vũ Hoài A sinh ngày 08/9/2017 và Vũ Đức D sinh ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H xin ly hôn Vũ Văn H"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST
Ngày 10/4/2025
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Ngọc Yến và bà Lê Thị Phương Mai

Ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thu Uyên -Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thịnh - Kiểm sát viên.

Mở phiên tòa ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã H, huyện X, thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện nay: Thôn Th 3, xã V, thị xã T, tỉnh Hà Nam.

Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn H, xã H, huyện X, Thành phố Hà Nội.

Chị H, anh H có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày:

Chị kết hôn với anh Vũ Văn H từ năm 2011 là hôn nhân tự nguyện tiến bộ, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bạch Hạ, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại nhà anh H ở thôn Hòa Hạ, xã Bạch Hạ. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô sát; Anh H không quan tâm đến vợ con, không giúp đỡ chị các công việc trong nhà; Quá trình vợ chồng sống chung, bố mẹ anh Hoàn thường xuyên có những lời lẽ khó nghe, xúc phạm chị và gia đình chị... Từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân hết sức căng thẳng. Đến cuối năm 2024, do không chịu đựng được, chị đã đưa các con chuyển về nhà ngoại sinh sống và bắt đầu ly thân với anh H.

Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên giải quyết cho chị được ly hôn để giải phóng cho cả hai.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung là Vũ Thị Ngọc Á sinh ngày 02/6/2012, Vũ Thị Ngọc D sinh ngày 24/11/2014, Vũ Hoài A sinh ngày 08/9/2017 và Vũ Đức D sinh ngày 25/11/2021. Ly hôn chị đề nghị được nhận nuôi con chung là cháu Á, để anh H trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con còn lại để anh Hoàn có trách nhiệm với các con.

Về tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng: Chị H khẳng định đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn Vũ Văn H trình bày:

Anh H thống nhất với trình bày của chị H về thời gian, địa điểm, quá trình kết hôn và chung sống.

Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh H cho rằng do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không nói chuyện được với nhau, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã về vấn đề kinh tế trong gia đình do chị Hường không biết tiết kiệm, chi tiêu hoang phí… Từ đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, to tiếng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân bế tắc. Đến tháng 7/2024, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị H đưa các con chuyển ra ngoài sinh sống. Do lo lắng cho các con nên anh cũng đi theo nhưng đến tháng 9/2024 vợ chồng vẫn không ở được với nhau nên anh đã trở về nhà ở thôn Hòa Hạ, xã Bạch Hạ sinh sống cho đến nay.

Nay chị Hường có đơn ly hôn, anh nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nhưng anh không muốn ly hôn với chị Hường vì không muốn con chung sống thiếu thốn tình cảm của cả bố lẫn mẹ. Trường hợp chị Hường cương quyết ly hôn thì anh cũng đành chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung như chị H trình bày. Ly hôn, anh xin nhận nuôi 03 cháu nhỏ, giao chị H nuôi cháu lớn là Vũ Thị Ngọc Á.

Về tài sản chung, công nợ chung vợ chồng: Anh H khẳng định không có, không đề nghị Tòa giải quyết.

Đại diện VKSND tham gia phiên toà xác định:

- Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Các đương sự đã được tạo mọi điều kiện để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hường; Giao con chung là Vũ Thị Ngọc Á cho chị H trực tiếp chăm sóc giáo dục, giao anh H trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung còn lại, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chung và công nợ chung các bên không đề nghị nên không đặt ra. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Đây là vụ án về “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, do nơi cư trú của bị đơn thuộc xã Bạch Hạ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội nên việc Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân và yêu cầu của các bên:

Năm 2011, chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Vũ Văn H. Đây là cuộc hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bạch Hạ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội năm 2011 (số 61/2011 ngày 07 tháng 9 năm 2011). Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô sát... Do mâu thuẫn trầm trọng, chị H đã chuyển ra ở riêng từ tháng 7/2024 và sống ly thân từ đó đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, anh H thống nhất với trình bày của chị Hường về thời gian, địa điểm, quá trình kết hôn, chung sống, thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, cũng như thời gian vợ chồng ly thân, cuộc sống hôn nhân bế tắc nhưng không đồng ý ly hôn vì không muốn con phải khổ. Tại phiên toà hôm nay, các bên vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H hôn nhân đã đến mức trầm trọng, từ cả hai phía đều có chung nhận thức tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân do đó không đạt được, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức… mặc dù anh Hoàn không đồng ý ly hôn với chị Hường nhưng cũng không có phương án nào khác để hoá giải mâu thuẫn, cải thiện tình cảm vợ chồng; mặt khác, việc anh Hoàn không đồng ý ly hôn vì lý do không muốn con phải khổ không phản ánh cội rễ để hôn nhân tồn tại là tình cảm vợ chồng nên thiếu sức thuyết phục… Vì vậy, yêu cầu của chị Hường xin ly hôn anh Hoàn là có cơ sở, HĐXX chấp nhận.

. Về con chung: Vợ chồng có bốn con chung là Vũ Thị Ngọc Á, sinh ngày 02/6/2012, Vũ Thị Ngọc Diễm, ngày 24/11/2014, Vũ Hoài A, sinh ngày 08/9/2017 và Vũ Đức Duy, sinh ngày 25/11/2021.

Xét thấy: Anh H và chị Hường đều thống nhất nếu ly hôn chị H sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Thị Ngọc Á, anh H trực tiếp nuôi dưỡng 3 con chung còn lại. Do anh Hoàn và chị H đã tự thỏa thuận với nhau về việc nuôi dưỡng con chung và theo đúng nguyện vọng của các con, nên giao con chung là cháu Vũ Thị Ngọc Ánh cho chị Hường trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung là cháu Vũ Thị Ngọc D, Vũ Hoài A và Vũ Đức D cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh H, chị H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

.Về tài sản chung, công nợ chung: Các bên thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung và không yêu cầu xem xét nên không xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Hường phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Chị H, anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên:

1. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung là Vũ Thị Ngọc Á, sinh ngày 02/6/2012 cho chị Nguyễn Thị Hường trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao anh Vũ Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Vũ Thị Ngọc Diễm sinh ngày 24/11/2014, Vũ Hoài A sinh ngày 08/9/2017 và Vũ Đức D sinh ngày 25/11/2021; Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Anh H, chị H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được phép ngăn cản.

3. Về tài sản, công nợ chung: Các bên không đề nghị xét nên không xét.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0015766 ngày 11/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Chị H đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ