- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn Minh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH V | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày 16 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH V
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Khảm
2. ÔNg Trần Văn Học
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 05/12/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh ngày 02/3/1988; Sinh trú quán: Thôn Khê N, xã Văn K huyện M, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1965; con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; vợ: Nguyễn Thị Bích P sinh năm 1993 (đã ly hôn); Con: 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến nay, (Có mặt).
Người làm chứng:
1/Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1997; Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh P,(Vắng mặt).
2/Ông Nguyễn Mai H, sinh năm 1960; thôn Đ1, xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh P,(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/9/2024, Nguyễn Văn M đang ở nhà thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên M một mình xin đi nhờ xe mô tô của người đi đường (Mkhông biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ biển kiểm soát) từ xã Văn đến xã Ng, huyện Y, tỉnh V để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến địa phận thôn Đinh Xá 1, xã N thì M xuống xe, đi bộ một mình để tìm mua ma tuý. Tại đây, M gặp một người đàn ông khoảng hơn 40 tuổi (không rõ lai lịch) đang đứng một mình. Nhận thấy, người đàn ông giống người nghiện ma tuý nên M hỏi mua của người đàn ông 200.000 đồng tiền ma tuý, người đàn ông đồng ý. M lấy 200.000 đồng đưa cho người đàn ông và được người này đưa lại cho 01 (một) gói ma tuý, M cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay phải và đi bộ tìm địa điểm sử dụng. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi M đang đi bộ tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn Đinh Xá 1, xã thì bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra phát hiện, bắt quả tang M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Nguyễn Văn M 01 (một) gói nhỏ bọc bằng giấy bạc, bên trong đựng chất bột cục màu trắng niêm phong ký hiệu A1, Minh khai là ma túy M vừa mua để sử dụng cho bản thân.
Tại Bản kết luận giám định số 2753/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V kết luận:“Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,1957g không kể bao bì, loại Heroine”.
Về nguồn gốc ma tuý và số tiền mua ma tuý: Nguyễn Văn M khai nhận do bản thân nghiện ma tuý từ năm 2022 qua hình thức hít Heroin. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên M đã hỏi mua của nam giới không rõ lai lịch trên đường, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan công an bắt quả tang thu giữ. Nguồn gốc số tiền 200.000 đồng M khai sử dụng mua ma tuý là do M lao động tích cóp mà có.
Về vật chứng: Gồm mẫu vật hoàn trả sau giám định 0,1590 gam ma tuý loại Heroine cùng toàn bộ bao gói.
Tại cáo trạng số: 87/CT-VKSYL ngày 06/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn M, giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng truy tố bị cáo. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/9/2024), không áp dụng hình phạt bổ sung. Và đề nghị giải quyết vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo đồng ý với luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 21/9/2024, Công an huyện Y bắt quả tang Nguyễn Văn M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý loại Heroine có khối lượng 0,1957 gam tại tại khu vực cổng làng Đinh X xã N huyện, tỉnh V.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn Mđã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocatine, Methamphetamine Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Do đó cáo trạng số 87/CT-VKSYL ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh V đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn làm tệ nạn ma túy ngày càng lan rộng hơn trong đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhất mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập, công việc ổn định, không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với bao gói niêm phong mẫu vật 0,1590 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với nam giới khoảng 40 tuổi bán chất ma túy cho Minh ngày 21/9/2024 tại khu vực cổng làng Đinh X, xã Ng huyện Y, tỉnh V và người dân qua đường cho Mđi nhờ xe, do M không biết tên, tuổi, địa chỉ сụ thể của những người này, nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh làm rõ. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (năm) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21 tháng 9 năm 2024).
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về vật chứng: Tịch thu mẫu vật ký hiệu A1= 0,1590 gam ma túy loại Heroin và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định để tiêu hủy (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa Công an huyện Yên Lạc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Y).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận -VKSND huyện Y; -VKSND tỉnh V; - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y; Cơ quan THA hình sự Công an huyện Y; - Chi cục THADS huyện Y; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Bình Thuận |