- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Quóc Việt - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Quốc V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày 12-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Thi
Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Đào Quốc V, sinh ngày 04 tháng 12 năm 1997 tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T và bà Bùi Thị X; có vợ là Hà Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20 tháng 12 năm 2023; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1945, bà Nguyễn Thị Bắc, sinh năm 1951 (là bố mẹ đẻ của anh Huy); vắng mặt.
+ Chị Lê Thị N, sinh năm 1981 (vợ của anh Huy); vắng mặt.
+ Cháu Nguyễn Hồng M, sinh năm 2006, cháu Nguyễn Phương Q, sinh năm 2010 và cháu Nguyễn Văn Q, sinh năm 2018 (là con đẻ của anh H); Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của các cháu Nguyễn Hồng M, Nguyễn Phương Q và Nguyễn Văn Q: Chị Lê Thị N, sinh năm 1981 (là mẹ đẻ); vắng mặt; Đều có địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Bắc và chị Lê Thị N: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại tiếp vận T; Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Quốc V có giấy phép lái xe hạng FC, là lái xe cho công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại tiếp vận T, địa chỉ ở xóm 1, thôn Tràng Duệ, xã Lê Lợi, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Khoảng 17 giờ 23 phút ngày 05/10/2023, Việt điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15C-166.00 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R-159.79 đi trên đường Quốc lộ 5 theo chiều từ Hà Nội về Hải Phòng. Khi đến Km 86+550, thuộc thôn 1, xã Bắc Sơn, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng cách lối rẽ từ đường Quốc lộ 5 đi đường Quốc lộ 10 khoảng 200 mét, Việt đã sử dụng điện thoại di động để nhắn tin, đồng thời điều khiển xe chuyển hướng sang phải để vào lối rẽ sang đường Quốc lộ 10. Do không chú ý quan sát, chuyển hướng không an toàn, nên đầu xe ô tô bên phải đã đâm vào thân xe mô tô biển kiểm soát 15C1-332.27 do anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979, trú tại thôn K, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng điều khiển đi cùng chiều phía trước. Hậu quả anh Huy ngã văng vào gầm xe ô tô, bị hàng lốp thứ 6 bên phải xe ô tô chèn qua người tử vong tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng.
Sau khi gây tai nạn, Đào Quốc V đã đến cơ quan Công an đầu thú.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại Km 86+750 – Quốc lộ 5, chiều đường Hà Nội về Hải Phòng, thuộc địa phận thôn 1, xã Bắc Sơn, huyện An Dương. Đoạn xảy ra tai nạn thuộc bên phải chiều đường Hà Nội đi Hải Phòng. Đường dẫn đi Quốc lộ 10 rộng trung bình 8,6m mặt đường trải nhựa áp phan nhẵn phẳng, có 2 làn đường: Làn đường xe thô sơ tiếp giáp với lề đường bên phải rộng trung bình 4,0m, làn đường xe cơ giới rộng trung bình 4,4m. Giữa hai làn đường được phân định bằng vạch sơn trắng liền rộng 0,2m. Từ phía Quốc lộ 5 về phía Quốc lộ 10, đường cong từ trái sang phải. Tại hiện trường có 03 dấu vết phanh kép: Dấu vết thứ nhất dài 9,85m, rộng trung bình 0,48m gồm hai vết phanh đơn song song, mỗi vết rộng 0,14m; dấu vết phanh kép thứ hai dài 16,5m, rộng trung bình 0,48m gồm hai vết phanh đơn song song, mỗi vết rộng 0,14m; dấu vết phanh kép thứ ba dài 2,96m, rộng trung bình 0,44m gồm hai vết phanh đơn song song, mỗi vết rộng 0,13m. Cả ba dấu vết phanh kép đều liên tục trên mặt đường chiều đường Hà Nội đi Hải Phòng của Quốc lộ 5, có chiều hướng từ Hà Nội về phía Hải Phòng. Dấu vết cày xước dài 42,9m, điểm rộng nhất 0,6m không liên tục trên mặt đường chiều đường Hà Nội đi Hải Phòng của Quốc lộ 5 và đường dẫn đi Quốc lộ 10.
Nạn nhân Nguyễn Văn H nằm ngửa trên mặt đường dẫn đi Quốc lộ 10, đầu nạn nhân hướng về phía Quốc lộ 10. Xe mô tô biển kiểm soát 15C1-332.27 đổ nghiêng sang phải tại mặt đường dẫn đi Quốc lộ 10, đầu xe hướng về Hải Phòng; đèn tín hiệu chuyển hướng bên phải phía trước và phía sau xe vẫn đang bật. Xe ô tô biển kiểm soát 15C-166.00 kéo sơmi rơmooc biển kiểm soát 15R-159.79, đỗ tại mặt đường làn đường xe cơ giới của đường dẫn đi Quốc lộ 10.
Khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 15C-166.00 kéo sơmi rơmooc biển kiểm soát 15R-159.79 xác định: Biển số phía trước đầu kéo bị vỡ khuyết phần lớn ốp nhựa bảo vệ, bẹp méo trong diện 33,8x14,5cm. Tại góc trên bên trái biển số này có dấu vết cày xước, mất sơn trong diện 5,9x2,1cm; phía trên dấu vết này có dấu vết trượt xước màu nâu đỏ, kích thước 2,5x3cm. Tại cạnh dưới bên trái biển số có đám dấu vết mài xước mất sơn, kích thước 21x5,5cm. Cản trước vị trí gần bên phải biển số có 02 vết cày mất sơn, vết thứ nhất có kích thước 1,8x0,5cm, vết thứ hai có kích thước 2,5x0,7cm, đều có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Tại góc dưới cản trước bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước 12,1x0,5cm có chiều hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới. Tại má lốp ngoài của hàng lốp sau cùng bên phải có dấu vết bám dính tạp chất màu nâu đỏ, có kích thước 9,2x13,8cm, tại khe vân lốp có bám tạp chất màu nâu đỏ kích thước 9x6,5cm. Tại má lốp trong của lốp ngoài hàng lốp sau cùng bên phải có bám tạp chất màu nâu đỏ kích thước 20x11cm theo chiều quay tiến bánh xe. Tại má lốp ngoài trên cùng bên phải có đám dấu vết trượt, bám tạp chất màu đỏ, kích thước 3x4,5cm theo chiều quay tiến bánh xe chếch từ mặt lăn vào tâm lốp (bút lục 31-33).
Xe mô tô biển kiểm soát 15C1-332.27: Cánh yếm bên phải có đám mài xước, bị rách dài 8cm. Chắn bùn bánh trước lỏng lẻo, bung bật một số mối gắn với ốp giảm xóc bên trái. Càng bánh trước bị đẩy cong từ phải sang trái. Chân phanh bị bó cứng, đầu chân phanh có vết mài xước kích thước 2x0,6cm. Giá để chân phía trước bên phải bị đẩy cong từ trước về sau, phần đầu giá có dấu vết mài xước, bám tạp chất màu trắng. Ốp sườn xe bên phải có dấu vết bục rách, mài xước, mất sơn. Tay dắt phía sau bên phải bị đẩy cong từ phải sang trái, từ dưới lên trên. Tay dắt phía sau bên trái bị đẩy cong từ trái sang phải. Mặt ngoài bình nhiên liệu có đám dấu vết bẹp mài xước kích thước 9,5x4,6cm. Giá để chân phía sau bên trái bị lỏng lẻo. Đầu giá để chân phía trước bên trái có dấu vết xước bám tạp chất màu đỏ kích thước 0,6x0,15cm.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 334/KL-KTHS, ngày 02/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Anh Nguyễn Văn H chết do sốc đa chấn thương.
Tại Bản kết luận giám định số 243/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Dấu vết trượt xước mất sơn (màu đỏ), bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới ở mặt ngoài phía trên bên phải (bên phụ) ốp nhựa cản trước xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 15C – 16600, kéo Sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R – 15979 phù hợp với dấu vết vỡ khuyết nhựa, bề mặt trượt xước mất sơn (màu xanh) theo chiều từ sau về trước ở cạnh ngoài phía cuối ốp nhựa thân xe bên trái trên xe mô tô biển kiểm soát 15C1 – 332.27.
Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 15C1-332.27 bị thiệt hại 2.607.000 đồng.
Kết quả đo nồng độ cồn của Đào Quốc V tại thời điểm xảy ra tai nạn là 0,000mg/l khí thở.
Tại Cáo trạng số 101/CT-VKS-AD ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương truy tố bị cáo Đào Quốc V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đào Quốc V khai nhận hành vi điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15C-166.00 kéo sơ mi rơ mooc gây tai nạn làm anh Nguyễn Văn H chết như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo để cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Quốc V từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe của bị cáo thu giữ trong vụ án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 23 phút ngày 05/10/2023, tại Km 86+550 Quốc lộ 5, thuộc thôn 1, xã Bắc Sơn, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, Đào Quốc V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15C-166.00 kéo sơmi rơmooc biển kiểm soát 15R-159.79 chuyển hướng rẽ phải sang Quốc lộ 10 không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn đã gây tai nạn với xe mô tô do anh Nguyễn Văn H điều khiển đi cùng chiều làm anh Huy tử vong tại chỗ. Hành vi điều khiển xe ô tô của Đào Quốc V không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Về lỗi: Trong vụ án này, lỗi thuộc về bị cáo Đào Quốc V, không tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ khi tham gia giao thông, không chú ý quan sát, điều khiển xe ô tô tham gia giao thông chuyển hướng rẽ sang phải không đảm bảo an toàn.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, gây tâm lý lo ngại cho người tham gia giao thông. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, người đại diện hợp pháp của các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do vậy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo như phân tích ở trên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về các vấn đề khác: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000đồng và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết. Đối với xe 01 xe ô tô biển kiểm soát 15C-166.00 kéo sơmi rơmooc biển kiểm soát 15R-159.79 cùng toàn bộ giấy tờ thu giữ liên quan, 01 mô tô biển kiểm soát 15C1 – 332.27, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp của bị hại. Do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại bị cáo Đào Quốc V 01 giấy phép lái xe số 310194002594 do Sở Giao thông vận tải Hải Phòng cấp ngày 25 tháng 01 năm 2022.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đào Quốc V.
Tuyên bố bị cáo Đào Quốc V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Đào Quốc V 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đào Quốc V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
- Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
- Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đào Quốc V.
Áp dụng khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo Đào Quốc V 01 Giấy phép lái xe số 310194002594 do Sở Giao thông vận tải Hải Phòng cấp ngày 25 tháng 01 năm 2022.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đào Quốc V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương; - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng; - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng; - Sở Tư pháp T.P Hải Phòng; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |