vanban.org

Bản án 93/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 25/09/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Duy Tr1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Duy Tr1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,1352 gam Heroine và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Duy Tr tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Duy Tr1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T1
TỈNH T2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS-ST
Ngày 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Mã Siêu.

Bà Tô Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.

- Tr1 diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1 tỉnh T2, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 13/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024, đối với bị cáo:

Bùi Duy Tr1, sinh ngày 22/10/1964, tại huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Tổ dân phố HTh, thị trấn T1, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Duy L và bà Nguyễn Thị Ph (đều đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Minh Ch và có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2002; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Tháng 8 năm 1985 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Trung đoàn x tỉnh Q đến tháng 4/1988 xuất ngũ về địa phương lao động tự do; bị tạm giữ từ ngày 22/6/2024 đến ngày 28/6/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T2; bị cáo trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bùi Thị Minh Tr, sinh năm 1993 trú tại Tổ dân phố TrT, thị trấn T1, huyện T1, tỉnh T2 (có mặt).

- Người làm chứng:

Ông Hà Duy Ch, sinh năm 1960, trú tại thôn Đ, xã TG; anh Vũ Văn M, sinh năm 1977, trú tại Tổ dân phố số x, thị trấn T1, đều thuộc huyện T1, tỉnh T2 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/6/2024, Bùi Duy Tr1 sinh năm 1964 trú tại tổ dân phố HTh, thị trấn T1, huyện T1, tỉnh T2 điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát xy đến khu vực miếu ba cô thuộc địa phận xã TL, huyện T1 mục đích tìm mua ma túy. Tại đây, Tr1 gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, nghi ngờ người đàn ông có ma túy bán nên Tr1 hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại Heroin, người đàn ông này nhận tiền rồi mượn xe của Tr1 đi đâu đó khoảng 10 phút thì quay lại và nói với Tr1 là ma túy để trong hộc dưới phần động cơ xe mô tô. Biết là ma túy đã được người đàn ông này cất giấu dưới gầm xe nên Tr1 điều khiển xe đi về hướng thị trấn T1. Khi đến đoạn đường quốc lộ x khu vực gần cổng nhà máy nước sạch T1 thuộc tổ dân phố HTh, thị trấn T1, huyện T1 thì bị Công an huyện T1 phát hiện. Quá trình làm việc Tr1 đã tự giác lấy trong hộc dưới phần động cơ xe mô tô ra 03 gói Heroin được gói bằng giấy tráng kim màu trắng có khối lượng là 0,1738 gam giao nộp cho Công an huyện T1 và khai nhận đó là ma túy vừa mua về mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Duy Tr1 tại Tổ dân phố HTh, thị trấn T1, huyện T1, tỉnh T2 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T1 không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Tại Bản kết luận giám định số 969/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,1738 gam. Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022.

Tại Cáo trạng số 98/CT-VKSTH ngày 12/9/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố Bùi Duy Tr1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, đề nghị: Tuyên bố bị cáo Bùi Duy Tr1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1 cũng đề nghị xử lý về vật chứng, án phí.

Bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Duy Tr1 đều khai nhận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 22/6/2024, tại đoạn đường quốc lộ 37B khu vực gần cổng nhà máy nước sạch T1 thuộc tổ dân phố HTh, thị trấn T1, huyện T1, tỉnh T2, Công an huyện T1 phát hiện bắt quả tang Bùi Duy Tr1 đang tàng trữ trái phép 03 gói ma túy loại Heroin có tổng khối lượng 0,1738 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Duy Tr1 phù hợp và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản kết luận giám định số 969/KL-KTHS ngày 27/6/2024 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, bị cáo Bùi Duy Tr1 là người đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy loại Heroin có tổng khối lượng 0,1738 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

..............................................................................................................

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Bùi Duy Tr1 là người sử dụng ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn khác cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện, vẫn sử dụng ma túy và tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an, hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý. Cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Do bị cáo là người nghiện ma túy, mua ma túy để sử dụng cho bản thân, không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, gia đình hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử cũng xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Tr1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này: Đối với người bán ma túy cho Tr1, Tr1 khai mua của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ cụ thể tại khu vực miếu ba cô xã TL, huyện T1, tỉnh T2 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý người đã bán ma túy cho Tr1.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,1352 gam Heroine và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 969/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh T2 là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, Biển kiểm soát xy xác định chiếc xe trên là của chị Bùi Thị Minh Tra, sinh năm 1993 trú tại Tổ dân phố Tr1 Tiến, thị trấn T1, huyện T1, tỉnh T2, khi bị cáo Tr1 mượn xe xủa chị Tra không cho chị Tra biết về việc đi mua ma tuý, chị Tra có đề nghị xin lại chiếc xe trên nên cần trả lại cho chị Tr chiếc xe trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo Tr1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Duy Tr1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Duy Tr1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,1352 gam Heroine và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 969/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T2.

Trả lại cho chị Bùi Thị Minh Tr, sinh năm 1993 trú tại Tổ dân phố Tr1 Tiến, thị trấn T1, huyện T1, tỉnh T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, Biển kiểm soát xy.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/9/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T1, tỉnh T2).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Duy Tr1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 25/9/2024./.

Cỡ chữ