vanban.org

Bản án 93/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 27/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình G, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình như sau:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Nguyễn Đình G 36 (ba mươi sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình G "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm d khoản 1 Điều 260 BLHS - phạm tội vi phạm quy định về tham gia g…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình G, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS-PT
Ngày 27 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Diệu.

Các Thẩm phán: Ông Trần Trung Thành và ông Nguyễn Thái Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đình G, do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Bị cáo: Nguyễn Đình G, sinh ngày 01/02/1997, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: khu phố X, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình K và bà Bùi Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản (Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2015/HSST ngày 10/02/2015); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/3/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1979; nơi cư trú: B Tổ B, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Lê Trung S -thuộc Công ty L; địa chỉ: Số C X, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần G1 hàng đúng hẹn; địa chỉ: 7 N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo pháp luật ông Lê Thái B - Giám đốc; đại diện theo ủy quyền: ông Huỳnh Trung H; địa chỉ: B đường B tháng D, V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, Nguyễn Đình G (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải BKS 50H - 247.56 của ông Lê Thái B ở B B, P, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (do Công ty cổ phần G1 hàng đúng hẹn thuê lại để hoạt động kinh doanh vận tải hàng hóa) chạy theo hướng Nam - B (hướng Quảng Trị đi Quảng Bình). Khi đến Km 1029 + 528m đường H nhánh Đông thuộc địa phận Bản B, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, do không làm chủ tốc độ nên phía trước bên phải đầu xe ô tô tải BKS 50H - 247.56 do G điều khiển va chạm với phía sau bên trái của xe ô tô con BKS 30H - 020.83 do anh Nguyễn Ngọc D điều khiển đang dừng lại bên phải đường phía trước cùng chiều, hậu quả 02 xe ô tô bị hư hỏng nặng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường theo hướng N - Bắc cho thấy: Hiện trường nơi xảy ra tại nạn là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường được rải nhựa phẳng, rộng 7m, ở giữa có vạch sơn vàng ngắt quãng phân chia hai làn đường cơ giới ngược chiều nhau; hai bên có hai vạch sơn dọc liền màu trắng, lề đường bên phải rộng 1,2m, lề đường bên trái rộng 1,2m; tiếp giáp mép ngoài lề đường bên phải là mương nước được xây dựng bằng bê tông rộng 1,4m, sâu 0,5m; cột mốc H5-1029 được xác định làm điểm mốc để khám nghiệm. Sau tai nạn, trên hiện trường có các vị trí, dấu vết và hai xe ô tô đều nằm trên phần đường xe cơ giới, lề đường và mương nước bên phải, được lập biên bản khám nghiệm và biên bản xác định hiện trường, mô tả đặc điểm, vị trí, khoảng cách các dấu vết, phương tiện sau khi xảy ra tai nạn giao thông.

Trên cơ sở kết quả khám phương tiện là hai xe ô tô, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu định giá tài sản bị thiệt hại. Tại Kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐG ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định: Xe ô tô tải BKS 50H - 247.56 bị hư hỏng thiệt hại với tổng trị giá là 192.800.000 đồng; xe ô tô con BKS 30H - 020.83 bị hư hỏng thiệt hại với tổng trị giá là 119.950.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại - ông Nguyễn Ngọc D yêu cầu Hội đồng xét xử buộc Công ty cổ phần giao hàng đúng hẹn là bên thuê và quản lý phương tiện có nguồn nguy hiểm cao độ gây tai nạn (xe ô tô tải BKS 50H - 247.56) phải bồi thường số tiền thiệt hại nhằm khắc phục, sửa chữa xe ô tô BKS 30H - 020.83 đảm bảo hoạt động lại bình thường theo báo giá của xưởng dịch vụ sửa chữa xe hãng KIA thuộc Công ty TNHH một thành viên T1 là: 261.883.000 đồng và các thiệt hại khác theo đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, cụ thể như sau:

- Chi phí xét nghiệm ma túy - nồng độ cồn: 380.000 đồng.

- Thuê xe cẩu kéo về bãi: 4.000.000 đồng.

- Khám chữa bệnh: 3.500.000 đồng.

- Vé máy bay, tàu, xe khách đi + về: 16.076.000 đồng.

- Chi phí ăn uống: 3.000.000 đồng.

- Tiền thuê khách sạn (250.000 đồng/ngày đêm): từ ngày 11/01 đến ngày 16/01/2024 là 1.250.000 đồng; từ ngày 26/01 đến ngày 30/01/2024 là 1.000.000 đồng; từ ngày 21/3 đến ngày 26/3/2024 là 1.250.000 đồng; từ ngày 26/4 đến ngày 28/4/2024 là 500.000 đồng; từ ngày 07/6 đến ngày 10/6/2024 là 750.000 đồng.

- Tiền taxi đi về sân bay, ga tàu: 3.150.000 đồng.

- Tiền thuê taxi đi làm từ nhà đến Công ty tại Hà Nội trong thời gian không có xe: 27.160.000 đồng.

- Tiền taxi đi Đồng Hới, bãi xe và huyện L: 7.912.034 đồng.

- Tiền trả nợ Ngân hàng (thế chấp xe) từ 11/01/2024 đến 26/8/2024: 57.618.412 đồng.

- Tiền thu nhập bị mất: tháng 01 là 12 ngày: 12.000.000 đồng; tháng 3 là 4 ngày: 4.000.000 đồng; tháng 4 là 02 ngày: 2.000.000 đồng; tháng 6 là 03 ngày: 3.000.000 đồng.

- Tiền thuê Luật sư: 100.000.000 đồng.

Những khoản phát sinh từ tháng 8/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm:

- Tiền vé máy bay 04 lượt: 4.600.000 đồng.

- Tiền thu nhập bị mất trong 06 ngày: 6.000.000 đồng.

- Tiền taxi đi sân bay: 1.200.000 đồng.

- Tiền taxi từ sân bay đến Tòa án: 2.000.000 đồng.

- Thuê xe đi làm từ 15/8 đến 30/9 là: 4.000.000 đồng.

- Tiền nghỉ lại khách sạn 27/8 đến 30/8 là: 750.000 đồng.

- Từ ngày 29/9 đến 01/10 (02 ngày): 500.000 đồng.

- Ăn uống 02 lần đi tham gia phiên tòa: 500.000 đồng.

- Tiền thuê luật sư phát sinh trong thời gian xét xử: 8.000.000 đồng.

Tổng thiệt hại về xe và các chi phí khác là: 537.979.446 đồng.

Bị cáo Nguyễn Đình G và Công ty cổ phần G1 hàng đúng hẹn chưa bồi thường cho bị hại.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình G phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 600 và Điều 601 Bộ luật Dân sự: phạt bị cáo Nguyễn Đình G 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đình G phải bồi thường cho bị hại - anh Nguyễn Ngọc D số tiền 194.872.000 đồng, trong đó: chi phí sửa chữa xe ô tô BKS 30H - 020.83 là 119.950.000 đồng, các chi phí hợp lý khác 74.922.000 đồng.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01 tháng 10 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đình G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 10/10/2024 bị hại - anh Nguyễn Ngọc D kháng cáo đề nghị Tòa cấp phúc thẩm hủy phần trách nhiệm dân sự trong Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, trả hồ sơ để điều tra lại (định giá lại tài sản bị thiệt hại).

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình G thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố và xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm xử bị cáo mức án như vậy quá nặng nên bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo để sớm về với gia đình. Để chứng minh cho đề nghị của mình là có căn cứ, bị cáo xuất trình 01 Biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ về việc bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 25.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại.

Bị hại anh - Nguyễn Ngọc D thay đổi một phần nội dung kháng cáo, nếu Hội đồng xét xử không chấp nhận hủy phần trách nhiệm dân sự trong Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy để trả hồ sơ để điều tra bổ sung (định giá lại tài sản bị thiệt hại) thì anh xin rút phần kháng cáo về khoản tiền thuê Luật sư là 108.000.000 đồng và khoản tiền trả nợ Ngân hàng 57.618.412 đồng, tổng cộng là 165.618.412 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình G, áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự chuyển hình phạt từ hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo với mức án từ 30

- 36 tháng. Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm không có căn cứ nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận; chấp nhận đề nghị của bị hại về việc rút yêu cầu khoản tiền bồi thường gồm chi phí thuê Luật sư và tiền trả nợ Ngân hàng V tổng số tiền 165.618.412 đồng.

Bị cáo Nguyễn Đình G nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, tại Km 1029 + 528m đường H nhánh Đông thuộc địa phận Bản B, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, bị cáo Nguyễn Đình G trong khi điều khiển xe ô tô BKS 50H- 247.56 do không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn theo quy định nên đã gây tai nạn với ô tô BKS 30H - 020.83 do anh Nguyễn Ngọc D điều khiển đang dừng lại bên phải đường phía trước cùng chiều. Hành vi của Nguyễn Đình G đã vi phạm Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G2 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, dẫn đến tai nạn gây hậu quả thiệt hại về tài sản với tổng giá trị 119.950.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đình G xuất trình chứng cứ chứng minh đã tự nộp khoản tiền 25.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại. Xét thấy, bị cáo mặc dù hoàn cảnh rất khó khăn nhưng đã cố gắng để khắc phục được một phần thiệt hại cho bị hại, mặc dù trách nhiệm bồi thường đã được Toà án sơ thẩm xác định cho bị đơn dân sự là Công ty cổ phần giao hàng đúng hẹn. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Đình G được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo để áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chuyển hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Bị cáo Nguyễn Đình G không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

. Xét kháng cáo của bị hại - anh Nguyễn Ngọc D:

Quá xem xét Kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HDĐG ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L và các tài liệu, chứng cứ liên quan đối với xe ô tô BKS 30H - 020.83 do anh D điều khiển bị hư hỏng và xác định thiệt hại với tổng giá trị 119.950.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng: việc định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện L đúng trình tự, thủ tục quy định của Nghị định số: 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của hội đồng định giá tài sản, trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự; việc xác định giá trị thiệt hại của xe ô tô BKS 30H-02083 là phù hợp, vì vậy, không có căn cứ để huỷ án sơ thẩm để trả hồ sơ điều tra bổ sung lại theo hướng định giá lại tài sản bị thiệt hại. Tại phiên toà, bị hại rút một phần yêu cầu trong tổng số tiền 537.979.446 đồng mà bị hại yêu cầu bồi thường là khoản tiền thuê Luật sư 108.000.000 đồng và khoản tiền trả nợ Ngân hàng 57.618.412 đồng, tổng cộng 165.618.412 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị hại nên cần chấp nhận. Như vậy, số tiền bị hại yêu cầu bồi thường còn lại là 372.361.034 đồng. Đối với khoản yêu cầu trên của bị hại, sau khi xem xét Hội đồng xét xử thấy các chi phí mà bị hại kê khai đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận với số tiền 194.827.000 đồng, trong đó thiệt hại do xe ô tô 119.950.000 đồng, các chi phí hợp lý khác 74.922.000 đồng và buộc Công ty giao hàng đúng hẹn phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự giữ nguyên số tiền mà bị đơn dân sự phải bồi thường cho bị hại là 194.872.000 đồng như Bản án sơ thẩm đã tuyên; đối với số tiền 177.489.034 đồng trong tổng số tiền mà bị hại yêu cầu bồi thường do không có căn cứ nên không được chấp nhận. Do trước khi mở phiên toà, bị cáo Nguyễn Đình G đã nộp để bồi thường số tiền 25.000.000 đồng cho bị hại, vì vậy, buộc bị đơn dân sự - Công ty giao hàng nhanh phải bồi thường tiếp số tiền 169.872.000 đồng cho bị hại.

. Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình G, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình như sau:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Nguyễn Đình G 36 (ba mươi sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Đình G cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo Nguyễn Đình G trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại - anh Nguyễn Ngọc D về việc huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Công ty cổ phần giao hàng đúng hẹn phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc D số tiền 194.872.000 đồng (một trăm chín mươi bốn triệu tám trăm bảy mươi hai ngìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Đình G đã nộp bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng), do đó, Công ty cổ phần giao hàng đúng hẹn phải bồi thường tiếp số tiền 169.872.000 đồng (một trăm sáu mươi chín triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng) cho anh Nguyễn Ngọc D.

Chi trả cho anh Nguyễn Ngọc D số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) mà bị cáo Nguyễn Đình G nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ để bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc D (theo Biên lai thu tiền số 0004348 ngày 27/12/2024).

Sau khi đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, Công ty cổ phần giao hàng đúng hẹn có quyền yêu cầu bị cáo Nguyễn Đình G hoàn trả lại số tiền đã bồi thường đó.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hành tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

- Về án phí sơ thẩm:

+ Buộc Công ty cổ phần giao hàng đúng hẹn phải nộp 8.493.600 đồng (tám triệu bốn trăm chín mươi nghìn sáu trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. + Buộc anh Nguyễn Ngọc D phải nộp 8.874.451 đồng (tám triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Về án phí phúc thẩm:

+ Bị cáo Nguyễn Đình G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

+ Bị hại Nguyễn Ngọc D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/12/2024).

Cỡ chữ