vanban.org

Bản án 93/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng C. Bà Nguyễn Thị Hồng C được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng C phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà C đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009441 ngày 04/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Hồng C yeu được ly hôn với ông Nguyễn Văn M."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng C. Bà Nguyễn Thị Hồng C được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST
Ngày 20 tháng 9 năm 2024
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Bá Diễn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Viết Cẩm và bà Phan Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu- tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Kỷ Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 216/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/5/2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1981.

Nơi đăng ký thường trú: Tổ 5, ấp Ông H, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú hiện nay: Tổ D, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1976.

Nơi đăng ký thường trú và cư trú: Tổ E, ấp Ông H, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

(Bà C có đơn xin vắng mặt; ông M vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng C trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn M tự nguyện yêu thương, chung sống và được UBND xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54/2003, quyển số 09 ngày 22/12/2003. Đây là hôn nhân lần đầu của bà.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau về mọi vấn đề trong cuộc sống gia đình. Do cu65c sống chung quá mâu thuận nên từ cuối năm 2020 đến nay, bà và ông M1 đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nhận thấy tình cảm yêu thương giữa vợ chồng bà không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không có hạnh phúc nên bà C yêu cầu được ly hôn với ông M.

Bà và ông M có 01 con chung là Nguyễn Huy H1, sinh ngày 10/12/2003. Anh H1 đã thành niên có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà và ông M không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng.

Về án phí bà đồng ý nộp toàn bộ án phí về việc ly hôn.

- Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Văn M không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà C, cũng không đến Tòa án làm việc, không đến tham gia phiên tòa nên không có lời trình bày của ông M.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Yêu cầu của bà C là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của C về việc được ly hôn với ông M; về con chung là Nguyễn Huy H1, sinh ngày 10/12/2003, cháu H1 đã thành niên có khả năng lao động đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng nên không xem xét giải quyết. Bà C phải chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

1.1. Bà Nguyễn Thị Hồng C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn M vì vậy quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Bị đơn là ông Nguyễn Văn M có nơi cư trú tại Tổ E, ấp Ô, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

1.3. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và đã nhiều lần tống đạt hợp lệ “Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” và “giấy triệu tập” (thể hiện tại các bút lục số: 14 đến 17; 23 đến 26; 35 đến 38) nhưng ông M không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên họp. Do ông M đã được thông báo, triệu tập nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành hòa giải được. Đồng thời, tiếp tục tống đạt cho ông V bằng thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng gồm: “Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”, “Quyết định đưa vụ án ra xét xử”, “Quyết định hoãn phiên tòa” (thể hiện tại các bút lục từ 56 đến 59) theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Về phía bà C đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông M theo quy định. [2]. Về nội dung tranh chấp: 2.1. Bà C, ông M tự nguyện chung sống với nhau, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa bà C, ông M là hôn nhân hợp pháp. 2.2. Như đã phân tích mục 1.3 nêu trên, ông M không lên Tòa án tham gia giải quyết vụ án, cũng không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án. 2.3. Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà C và xác minh tại địa phương nơi ông M sinh sống thì thấy cuộc sống chung của bà C đã không có hạnh phúc. Trên thực tế, bà C đã sống ly thân với ông M từ cuối năm 2020 cho đến nay, bà C không còn tình cảm với ông M, vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức phiên họp hòa giải để đoàn tụ nhưng ông M không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải với bà C, qua đó thể hiện ông M không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ với bà C. Xét thấy bà C, ông M không có sự yêu thương, tôn trọng; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà C với ông M là có cơ sở chấp nhận. 2.4. Về con chung: Bà C và ông M có 01 con chung là Nguyễn Huy H1, sinh ngày 10/12/2003. Anh H1 đã thành niên có khả năng lao động và bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. 2.5. Về nợ chung và tài sản chung: Bà C khai không có nợ chung, bà C không yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung và nợ chung của bà C, ông M trong vụ án này. [3]. Về án phí ly hôn: Bà C khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà C đã nộp.

[4]. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Điều 51, 53, 56, 57, 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng C. Bà Nguyễn Thị Hồng C được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng C phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà C đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009441 ngày 04/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Như vậy, bà C đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

3. Bà C, ông M có quyền kháng cáo trong hạn thời 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án này theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ