vanban.org

Bản án 93/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các i u 144, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 0 ;

iểm a khoản i u 27 Nghị quyết BTV H ngày 0 tháng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Các i u 144, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 0 ;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/3/2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 863/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 144/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp M, xã M, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; có văn bản xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Phước S, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày, sau thời gian tự tìm hiểu chị và anh S được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới năm 2018, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C tỉnh An Giang. Vợ chồng sống chung đôi lúc cũng hay cãi vã, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn sống không tình cảm, bất đồng quan điểm, không hợp nhau, anh S không lo làm ăn lo cho vợ con, chị có khuyên nhưng anh S không sửa đổi, vợ chồng không còn sống chung từ cuối năm 2020 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh S.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung tên Lê Thị Yến T, sinh ngày 14/01/2010; Lê Phước T1, sinh ngày 24/10/2020, hiện nay sống chung với chị L, khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L xác định vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị L xác định vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận kết hôn số 46/2018 ngày 26.02.2018 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp; Giấy khai sinh của Lê Thị Yến T; Lê Phước T1 (bản sao).

Anh Lê Phước S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình công khai chứng cứ hòa giải vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có ý kiến xin xét xử vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến gì khác.

- Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có văn bản xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt, nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chị L và anh S do quen biết có tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không thể giải quyết được, không thể hàn gắn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn đối với anh S.

Phía anh S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và có gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L và anh S là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, mục đích hôn nhân không đạt, không thể hàn gắn. Từ khi chị L yêu cầu ly hôn đến nay, anh S không có ý kiến phản hồi, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị L yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thị Yến T, sinh 14/01/2010; Lê Phước T1, sinh 24/10/2020. Con chung hiện đang sống với chị L, sau khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, cháu T đủ tuổi để Tòa án ghi nhận ý kiến và cháu có nguyện vọng sống với mẹ. Riêng, cháu T1 chưa đủ tuổi để tòa ghi nhận ý kiến. Hiện, cháu T, T1 đang sống cùng với chị L, các cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Vì vậy, cần ổn định cuộc sống của cháu, tiếp tục giao cháu T, cháu T1 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Từ những phân tích trên căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề xuất:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Lê Phước S

Chị Nguyễn Thị L được tiếp tục chăm sóc con chung tên Lê Thị Yến T, sinh 14/01/2010; Lê Phước T1, sinh 24/10/2020. Anh Lê Phước S không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Phước S cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng, anh Lê Phước S mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh S theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Phước S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh S là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, chị L với anh S thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, anh S không lo làm ăn lo cho vợ con, chị có khuyên nhưng anh không sửa đổi, anh chị không còn sống chung từ cuối năm 2020 cho đến nay. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị L, anh S là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh S theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị L xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung tên Lê Thị Yến T, sinh ngày 14/01/2010; Lê Phước T1, sinh ngày 24/10/2020 hiện nay 02 con chung sống chung với chị L1, khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung.

Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho vợ hay chồng chăm sóc, nuôi dưỡng, cần xem xét đến điều kiện phát triển và nguyện vọng của con chung. Từ khi ly thân đến nay, cháu Yến T, Phước T1 sống chung với chị L các cháu vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Mặt khác, tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Yến T thì cháu có nguyện vọng sống chung với chị L. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Yến T. Hội đồng xét xử nghĩ nên tiếp tục giao cháu Yến T, cháu Phước T1 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, anh S cũng không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị L xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Anh Lê Phước S không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các i u , , , , , Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Các i u 144, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 0 ;

iểm a khoản i u 27 Nghị quyết

0

BTV H ngày 0 tháng

năm 0 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Lê Phước S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 26/02/2018 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị L và anh Lê Phước S không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Lê Thị Yến T, sinh ngày 14/01/2010; Lê Phước T1, sinh ngày 24/10/2020 hiện nay sống chung với chị L, khi ly hôn chị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Yến T, cháu Phước T1. Anh Lê Phước S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Phước S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị L xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ghi nhận chị L, anh S xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị L và anh S trong thời kỳ hôn nhân thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

5. Về án phí sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 00 000 ba trăm nghìn đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014813 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 14 tháng 12 năm 2024; Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí.

Anh Lê Phước S không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

6. Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại i u 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quy n thoả thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các i u , 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại i u 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ