vanban.org

Bản án 93/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Buộc ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 2.

Kể từ ngày 26/4/2024, ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ còn phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số 098/22/HĐCV-9377 ngày 09/6/2022 cùng các Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi trả hết nợ.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Q yêu cầu ông Văn Công H và bà Phạm Thị Đ."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Buộc ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 2.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/DS-ST
Ngày: 25/4/2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Thống

2. Ông Nguyễn Tấn Đạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Thông báo dời phiên tòa số 11/TB-TA ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Q.

Trụ sở: BL, phường L, quận HK, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Viết P - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ. (Giấy ủy quyền số 109/2023/UQ-CTHĐQT ngày 13/7/2023)

* Người được ông P ủy quyền lại:

- Anh Trần Hoàng V - Trưởng bộ phận xử lý nợ - Trung tâm xử lý nợ. (xin vắng mặt)

- Anh Lƣu Thế Q - Chuyên viên xử lý nợ - Trung tâm xử lý nợ. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: AN, phường G1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: - Ông Văn Công H1, sinh năm xxxx.

- Bà Phạm Thị Đ, sinh năm xxxx.

Cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện ủy quyền của ông H1 và bà Đ: Bà Nguyễn Tuyết M, sinh năm xxxx. (Hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2024) (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 11 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ cùng với Ngân hàng thương mại cổ phần Q - TG đã ký kết Hợp đồng cho vay số 098/22/HĐCV-9377 ngày 09/6/2022 với số tiền vay là 1.800.000.000 đồng; mục đích vay: hoàn tiền mua bất động sản; thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân; lãi suất kỳ đầu tiên: lãi suất vay kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên đến ngày 09/9/2022 là 12%/năm; lãi suất kỳ tiếp theo: lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức: lãi suất vay = lãi suất cơ bản + 3,5%/năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; lãi phạt chậm trả lãi: 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Ngày 09/6/2022, ngân hàng đã giải ngân và ông H1, bà Đ đã nhận nợ số tiền 1.800.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/098/22/HĐCV-9377.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, ông H1 và bà Đ đã thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 361/21/HĐTC-9377 ngày 24/5/2021, số công chứng: 2671, quyển số 05/2021TP/CC - SCC/HĐGD do Phòng Công chứng ĐGC công chứng ngày 24/5/2021 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Tiền Giang ngày 25/5/2021, bao gồm:

- Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 487, tờ bản đồ số 31, diện tích 500,5m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp E, xã G, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG652818, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS03931 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 29/12/2016 cho bà Phạm Thị Đ, cập nhật thay đổi diện tích và số thửa ngày 26/9/2017.

- Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 31, diện tích 500m2, loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại ấp E, xã G, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK927598, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS04102 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 14/9/2017 cho bà Phạm Thị Đ.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H1 và bà Đ đã thanh toán cho ngân hàng được tổng số tiền lãi là 194.069.940 đồng, không thanh toán nợ gốc. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo, làm việc trực tiếp yêu cầu trả nợ, bàn giao tài sản bảo đảm theo đúng quy định nhưng ông H1, bà Đ vẫn không thực hiện theo yêu cầu.

Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu:

1. Ông H1 và bà Đ thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 2.217.660.055 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 1.800.000.000 đồng, nợ lãi là 417.660.055 đồng).

2. Ông H1 và bà Đ phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng tiền lãi phát sinh từ ngày 26/4/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay cùng khế ước nhận nợ đã ký.

3. Trường hợp ông H1 và bà Đ không thực hiện được hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên ngân hàng được yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho ngân hàng.

4. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông H1 và bà Đ phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho ngân hàng.

5. Ông H1 và bà Đ phải chịu mọi chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

* Quá trình giải quyết vụ án, đại diện ủy quyền của bị đơn ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ là bà Nguyễn Tuyết M trình bày:

- Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 20/3/2024, bà M trình bày: Ông H1 và bà Đ thống nhất với lời trình bày của đại diện ngân hàng về số nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 20/3/2024 mà hiện ông bà còn nợ ngân hàng do làm ăn không được nên để nợ quá hạn đến nay. Nay ông H1, bà Đ đồng ý trả cho ngân hàng số nợ gốc và lãi cùng các khoản phí tố tụng phát sinh theo yêu cầu của ngân hàng, thời hạn trả: ngày 28/3/2024. Trường hợp không có khả năng thanh toán nợ đúng hạn thì ông bà đồng ý để cơ quan thi hành án phát mãi tài sản đã thế chấp cho ngân hàng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, ông H1 và bà Đ yêu cầu N phải chịu 1/2 án phí sơ thẩm.

- Tại phiên tòa, bà M vắng mặt không lý do dù đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” cần được xem xét, giải quyết theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn xin vắng mặt, đại diện ủy quyền của bị đơn vắng mặt không lý do dù đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:

- Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cùng lời khai thừa nhận của phía bị đơn, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ có vay của ngân hàng số tiền 1.800.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay số 098/22/HĐCV-9377 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/098/22/HĐCV-9377 ký cùng ngày 09/6/2022. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H1 và bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và tính đến ngày 25/4/2024 thì ông bà còn nợ lại N tổng số tiền là 2.217.660.055 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 1.800.000.000 đồng, nợ lãi là 417.660.055 đồng). Do ông H1 và bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được hai bên thỏa thuận và ký kết trong hợp đồng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông bà có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh như nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.

- Về thời hạn trả nợ: Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 20/3/2024, phía ông H1 và bà Đ đồng ý trả nợ cho ngân hàng vào ngày 28/3/2024; Tuy nhiên, ông H1 và bà Đ yêu cầu ngân hàng phải chịu 1/2 án phí sơ thẩm nhưng ngân hàng không đồng ý nên hai bên không thỏa thuận được. Hội đồng xét xử nhận thấy, do ông H1 và bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên thỏa thuận nên cần buộc ông bà có trách nhiệm thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh như nêu trên cho ngân hàng 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng.

- Kể từ ngày 26/4/2024, ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ còn phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số 098/22/HĐCV-9377 ngày 09/6/2022 cùng các Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

- Về xử lý tài sản bảo đảm: Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 361/21/HĐTC-9377 ngày 24/5/2021 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật nên có hiệu lực thi hành. Tài sản thế chấp nêu trên không phát sinh tranh chấp với bên thứ ba và thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ. Theo nội dung thỏa thuận tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng, ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ khi đến hạn trả nợ mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán theo quy định trong hợp đồng cấp tín dụng. Do đó, hết thời hạn thanh toán nêu trên, nếu ông bà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên để đảm bảo việc thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi và các khoản phải trả khác cho ngân hàng, điều này phù hợp với quy định tại Điều 299 và khoản 7 Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về chi phí tố tụng: Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 500.000 đồng mà nguyên đơn đã thanh toán, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận nên buộc bị đơn có nghĩa vụ hoàn lại nguyên đơn toàn bộ chi phí này theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về án phí sơ thẩm:

- Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 76.353.200 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Các Điều 299, 323, 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 91 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Buộc ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 2.217.660.055 đồng (Hai tỷ hai trăm mười bảy triệu sáu trăm sáu mươi nghìn không trăm năm mươi lăm đồng), (Trong đó: Nợ gốc là 1.800.000.000 đồng, nợ lãi là 417.660.055 đồng). Thực hiện trả 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 26/4/2024, ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ còn phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số 098/22/HĐCV-9377 ngày 09/6/2022 cùng các Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2. Trường hợp ông Văn Công H1 và bà Phạm Thị Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 361/21/HĐTC-9377 ngày 24/5/2021 đối với các tài sản sau:

- Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 487, tờ bản đồ số 31, diện tích 500,5m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp E, xã G, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG652818, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS03931 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 29/12/2016 cho bà Phạm Thị Đ, cập nhật thay đổi diện tích và số thửa ngày 26/9/2017.

- Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 31, diện tích 500m2, loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại ấp E, xã G, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK927598, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS04102 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 14/9/2017 cho bà Phạm Thị Đ.

3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông H1 và bà Đ có nghĩa vụ hoàn lại Ngân hàng thương mại cổ phần Q tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông H1 và bà Đ phải nộp 76.353.200 đồng (Bảy mươi sáu triệu ba trăm năm mươi ba nghìn hai trăm đồng).

- Hoàn lại Ngân hàng thương mại cổ phần Q tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.263.000 đồng (Ba mươi hai triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0013154 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ