vanban.org

Bản án 93/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 20/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án,…

Tuyên bố: Bị cáo Lê Nghĩa T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Lê Nghĩa T 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 30/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lê Nghĩa T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án,…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/HSST
Ngày: 20/2/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T- TỈNH THANH HOÁ

--Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Loan.

Ông Lê Cát Tưởng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký tòa án nhân dân

Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố T tham gia phiên toà: Bà

Mai Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 2 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 132/2023/TLST-HS ngày 18/1/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 2 năm 2023, đối với bị cáo:

Lê Nghĩa T, sinh năm 1980 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: SN 02/16 Ngõ Tr, phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 09/12; Con ông: Lê Văn Tr (đã chết); Con bà: Đỗ Thị T2, sinh năm 1952; Gia đình có 02 anh em, Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Tạm giữ từ ngày 30/11/2022 đến ngày 08/12/2022 chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố T. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1976. “Vắng mặt”.

Địa chỉ: Số 22/50 L, phường Tr, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Anh P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 8 giờ ngày 30/11/2022, T đang ở nhà thì anh Nguyễn Văn P là bạn đến chơi. Khi P đang ngồi ở ghế phòng khách và T đang ngồi ở trên giường thì Tổ công tác Công an phường Đ đến kiểm tra. Tại chỗ T đã tự giác giao nộp có 02 gói giấy màu trắng mỗi gói kích thước (1x2)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng mà T đang cất giấu dưới gối ngủ trên giường. T khai nhận đó là 02 gói ma túy loại heroine mua với mục đích sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và thu giữ tang vật.

Tại cơ quan điều tra, Lê Nghĩa T khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Do nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 19 giờ ngày 29/11/2022 Lê Nghĩa T một mình đi bộ đến khuôn viên Cây Xanh, phường Điện Biên, Thành phố T tìm mua ma túy sử dụng. Khi T đang ngồi trong khuôn viên Cây Xanh thì gặp một người đàn ông tên Nam khoảng 45 tuổi, T đưa 800.000 đồng cho người đàn ông này nhờ mua ma túy, người đàn ông này đồng ý và đi đâu khoảng 15 Pt sau quay lại đưa cho T 02 gói ma túy loại heroine. T nhận ma túy và đem số ma túy này về nhà cất giấu dưới gối với mục đích sử dụng dần. Chưa kịp sử dụng thì bị Công an phường Đ, Thành phố T kiểm tra, phát hiện, thu giữ.

Cùng ngày 30/11/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố T tiến hành khám xét nơi ở của Lê Nghĩa T tại số nhà 02/16 Ngõ Thắng, phường Đ, Thành phố T nhưng không thu giữ được gì.

Tại bản kết luận giám định số 4283/KL-KTHS ngày 07/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,189g (không phẩy một tám chín gam) loại Heroine.

Vật chứng của vụ án: Toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố T để xử lý theoe quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn P là người có mặt ở nhà bị cáo T khi Công an đến kiểm tra, bắt quả tang đối với T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của T, P và các tài liệu chứng cứ khác P hoàn toàn không biết và không liên quan đến việc Tàng trữ ma túy của T. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với P.

Căn cứ lời khai của Lê Nghĩa T về người đàn ông khoảng 45 tuổi tên Nam đã mua giúp ma túy cho T tại Công viên Cây xanh, phường Điện Biên, Thành phố T. Cơ quan điều tra đã xác minh tại khu vực này không ai có đặc điểm như T khai. Việc T nhờ người mua mà túy tại khu vực trên, mua của ai không có ai chứng kiến, cũng không có tài liệu nào chứng minh nên không có căn cứ để xác minh xử lý.

* Tại bản Cáo trạng số 83/CTr-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Lê Nghĩa T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định số ma túy trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo T mức hình phạt từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về tang vật: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận: Vào khoảng 08 giờ ngày 30/11/2022 tại SN 02/16 Ngõ Thắng, phường Đ, Thành phố T. Tổ công tác Công an phường Đ, TP.Thanh Hóa làm nhiệm vụ đã kiểm tra và bắt quả tang Lê Nghĩa T đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy có khối lượng là 0,189g (không phẩy một tám chín gam) loại Heroine.

Bị cáo nhận thức được việc “tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ý thức chủ quan của bị cáo là tàng trữ ma túy để sử dụng nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Vì vậy, hành vi của bị cáo Lê Nghĩa T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân đã ngang nhiên mua ma túy về sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng với tính chất nghiêm T của loại tội phạm về ma túy và hành vi phạm tội của bị cáo thì việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; Bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng không có tính chất vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Về vật chứng: Xét số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố T theo Biên bản giao nhận vật chứng số 70/2023/THA ngày 17/ 01/2023. Đây là chất nhà nước cấm lưu hành, sử dụng nên căn cứ vào Điều 47, Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Nghĩa T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Lê Nghĩa T 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 30/11/2022.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa. Số ma túy trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng số 70/2023/THA ngày 17/ 01/2023.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ