vanban.org

Bản án 93/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 08/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo Trương Văn T 02 năm tù (hai năm tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 năm (bốn năm), kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trương Văn T cho ủy ban nhân dân thị trấn Đắk Hà, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/HSST
Ngày: 08/8/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hương;

Bà Lê Thị Thận,

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông An Bắc Lừng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2023/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2023/QĐXXST – HS ngày 20 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Văn T, sinh năm 1982, tại tỉnh Hà Nam.

Chứng minh nhân dân số: 233179XXX cấp ngày 23/3/2016 Nơi cấp: Công an tỉnh Kon Tum.

Nơi cư trú: Tổ dân phố XX, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T và bà Trương Thị N; bị cáo có vợ và 01 người con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

- Bị hại: Bùi Thị P, (đã chết).

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

1. Nguyễn Đức T1, sinh năm 1990, (vắng mặt).

2. Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1996, (vắng mặt).

3. Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 2003, (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu Đ, thị trấn Đ, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

4. Ông Bùi Văn L - là cha của bị hại, (vắng mặt).

5. Bà Nguyễn Thị L1 - là mẹ của bị hại, (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Người đại diện theo ủy quyền của đại diện theo pháp luật của người bị hại: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1990, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn Đ, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Bị đơn dân sự: Chi nhánh công ty cổ phần vận tải và thương mại V

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đình T – Chức vụ: Giám đốc

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Văn M – Trưởng phòng VTOT, (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn T có giấy phép lái xe số 620121622XXX hạng E cấp ngày 07/9/2021 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp. Khi tham gia giao thông T không sử dụng ma túy, rượu bia hay chất kích thích khác. Khoảng 10 giờ ngày 11/02/2023 Trương Văn T điều khiển xe ô tô biển số: 29H-854.XX chở hàng di chuyển trên quốc lộ 14 đi từ tỉnh Kon Tum về Thành Phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 18 giờ 10 cùng ngày, khi T điều khiển xe ô tô đi đến Km 913 QL 14 thuộc Khu Đ, thị trấn Đ, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Lúc này, T điều khiển xe ô tô chuyển hướng từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái (theo hướng đi từ tỉnh Đăk Nông đi thành phố Đồng Xoài) để vào đổ xăng tại cửa hàng xăng dầu số 02 thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Duy Kỳ 3. Do chuyển hướng qua đường thiếu quan sát, không đảm bảo an toàn nên ô tô do T điều khiển đã va chạm với xe mô tô biển số: 93L1-038.XX do bà Bùi Thị P đang điều khiển xe theo hướng ngược lại gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Bà Bùi Thị P tử vong tại chỗ, xe ô tô biển số: 29H-854.XX và xe mô tô biển số: 93L1-038.XX hư hỏng.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 194 KL(PY) – KTHS ngày 21/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Bùi Thị P bị đa chấn thương gãy xương, vỡ xương hộp sọ dẫn đến tử vong.

Kết quả đo nồng độ cồn và ma tuý Trương Văn T đều âm tính.

- Về vật chứng vụ án:

+ 01 xe mô tô biển số: 29H – 854.XX là tài sản của Chi nhánh, Công ty cổ phần vận tải và thương mại V. Ngày 17 tháng 3 năm 2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng ra Quyết định xử lý vật chứng số: 21/QĐ, trả lại xe cho Chi nhánh, Công ty cổ phần vận tải và thương mại V.

+ 01 xe mô tô biển số: 93L1 – 038.XX; có chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Đức T ngày 27/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng đã ra Đăng ra Quyết định xử lý vật chứng số: 26/QĐ, trả lại chiếc xe trên cho anh T.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị đơn dân sự đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại là anh Nguyễn Đức T số tiền 200.000.000 đồng; Đại diện bị hại đã viết đơn bãi nại cho bị cáo T và không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 93/CT – VKS ngày 12/7/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Trương Văn T về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng

Bị cáo Trương Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Đại diện hợp pháp của người bị hại: Không có mặt tại phiên tòa nhưng đại diện bị hại đã có đơn bãi nại, không có yêu cầu gì và xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng và Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trương Văn T có giấy phép lái xe số 620121622XXX hạng E cấp ngày 07/9/2021, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp. Khi tham gia giao thông T không sử dụng ma túy, rượu bia hay chất kích thích khác. Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 11/02/2021, Trương Văn T điều khiển xe ô tô biển số: 29H – 854.XX đi từ tỉnh Kon Tum về Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến Km 913 đường QL14 thuộc khu Đức Thiện, thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước thì T Điều khiển xe chuyển hướng từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái, không đảm bảo an toàn nên va chạm với xe mô tô biển số: 93L1 – 038.XX do bà Bùi Thị P đang điều khiển xe theo hướng ngược lại gây tai nạn giao thông, làm bà P tử vong tại chỗ.

Như vậy, hành vi của bị cáo Trương Văn T đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.

Điều 15. Luật Giao thông đường bộ

“2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.

Với hậu quả anh Phạm Ngọc Đức bị tử vong nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc gây thiệt hại cho người khác một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do ý thức chấp hành giao thông kém, chủ quan, cẩu thả nên đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khiến bà Bùi Thị P tử vong, gây đau thương, mất mát lớn cho gia đình bị hại.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo cùng với bị đơn dân sự đã bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu của đại diện gia đình người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại làm đơn bãi nại và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Đây là các tình tiếtgiảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp với mục đích của hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của bị cáo là lỗi vô ý. Nhằm tạo điều kiện cho bị cáo làm việc để khắc phục hậu quả, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm lái xe ô tô đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

+ 01 xe mô tô biển số: 29H – 854.XX là tài sản của Chi nhánh, Công ty cổ phần vận tải và thương mại V. Ngày 17 tháng 3 năm 2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng ra Quyết định xử lý vật chứng số: 21/QĐ, trả lại xe cho Chi nhánh, Công ty cổ phần vận tải và thương mại V.

+ 01 xe mô tô biển số: 93L1 – 038.XX; có chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Đức T ngày 27/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng đã ra Đăng ra Quyết định xử lý vật chứng số: 26/QĐ, trả lại chiếc xe trên cho anh T.

Các vật chứng nêu trên đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại đã làm đơn bãi nại và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trương Văn T 02 năm tù (hai năm tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 năm (bốn năm), kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trương Văn T cho ủy ban nhân dân thị trấn Đắk Hà, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và bi đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa phương, nơi cư trú.

Cỡ chữ