vanban.org

Bản án 93/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Đoàn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Đoàn Văn K 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo K cho Ủy ban nhân dân xã Trung Châu, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐOÀN VĂN K - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đoàn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/HS-ST
Ngày: 26-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Đức Danh

2. Ông Nguyễn Đắc Hưng

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hường – K sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Đoàn Văn K - Sinh ngày 08/02/1977, tại xã Tr, huyện Đ, Thành Phố Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn 2, xã Tr, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đoàn Văn A - Sinh năm 1946 và bà: Bùi Thị D - Sinh năm 1949; Có vợ: Phùng Thị Thu Ph - Sinh năm 1982; Có 03 con; lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2008;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/3/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Không xác định được danh tính

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Công H – sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn 2 xã Tr, huyện Đ, thành phố Hà Nội

2. Anh Đào Văn L – sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn 2 xã Tr, huyện Đ, thành phố Hà Nội

3. Anh Lê Ngọc Đ – sinh năm 1993

Địa chỉ: Tiểu khu 7, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

Tất cả người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h45’ ngày 23/6/2017, Đoàn Văn K điều khiển xe ô tô khách loại 16 chỗ ngồi mang biển K soát 29B - 055.38 lưu thông trên Quốc lộ 1A ở làn đường xe cơ giới bên trong tiếp giáp với giải phân cách cứng theo hướng Bắc - Nam. Khi đi đến Km 366+600m, thuộc địa phận Tiểu khu 5, thị trấn Tĩnh Gia, huyện Tĩnh Gia (nay là Tiểu khu 5, phường Hải Hòa, thị xã Nghi Sơn), Thanh Hóa, đây là đoạn đường qua khu vực đông dân cư, nơi có điểm mở giải phân cách rộng 31m, có biển báo hiệu nơi quay đầu xe, biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (đường dân sinh vào Tiểu Khu 5), có gờ giảm tốc, có biển báo người đi bộ sang ngang và vạch sơn kẻ phần đường giành cho người đi bộ sang ngang. Cùng lúc này, K phát hiện thấy phía trước theo hướng đi có một người phụ nữ (chưa xác định danh tính, địa chỉ) đi bộ từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải Quốc lộ 1A, nhưng không đi trên vạch sơn dành cho người đi bộ sang đường. K bấm còi báo hiệu, nhưng không giảm tốc độ mà đánh lái sang phải để tránh người phụ nữ nhưng không kịp nên xe ô tô do K điều khiển đã đâm vào người phụ nữ, làm người này ngã xuống đường, bị thương. Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, K xuống xe đưa người phụ nữ vào bệnh viện đa khoa khu vực Tĩnh Gia (nay là bệnh viện đa khoa khu vực Nghi Sơn) cấp cứu, rồi quay lại điều khiển xe ô tô rời khỏi hiện trường đi vào thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An trả khách, sau đó K điều khiển xe ô tô về Công an huyện Tĩnh Gia (nay là Công an thị xã Nghi Sơn) trình báo vụ tai nạn. Đến ngày 25/6/2017, người phụ nữ bị tai nạn nêu trên đã tử vong.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn) đã trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa khám nghiệm tử thi xác định nguyên nhân chết đối với nạn nhân nữ chưa rõ danh tính.

Tại bản kết luận số 1579/GĐPY-PC54 ngày 28/6/2017, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định

- Các vết rách da, xây xước da, bầm tụ máu tại vùng: Đầu, ngực, vai trái, lưng trái, tứ chi.

- Tụ ngấm máu tổ chức da đầu vùng chẩm, đỉnh, thái dương hai bên, vùng trán trái và cơ thái dương trái.

- Vỡ xương hộp sọ.

- Tụ máu rải rác dưới màng cứng bán cầu đại não hai bên.

- Tụ máu lan tỏa màng mềm bán cầu đại não hai bên.

- Phù não.

2. Nguyên nhân chết: Vỡ xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, tụ máu lan tỏa màng mềm, phù não;

Kết quả khám nghiệm phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn giao thông, tại bản kết luận số 1645/PC54 ngày 10/7/2017, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

1. Va chạm giữa xe ô tô BKS: 29B - 055.38 với người đi bộ:

- Vết tỳ trượt tại mặt trước ngoài bên trái đầu xe ô tô BKS: 29B - 055.38 phù hợp do va chạm với mặt sau khuỷu tay phải của người đi bộ tạo nên.

- Vết tỳ trượt tại mặt trước góc dưới bên trái kính chắn gió trước, mặt trước ngoài ốp nhựa sát bên trái kính chắn gió trước và mặt trước ngoài ốp nhựa gương chiếu hậu bên trái xe ô tô BKS: 29B - 055.38 phù hợp do va chạm với vùng thái dương đỉnh phải và mặt trên sau vai trái của người đi bộ tạo nên.

2. Tại thời điểm va chạm người đi bộ có hướng đi từ trái qua phải so với hướng chuyển động của xe ô tô BKS: 29B - 055.38.

3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô BKS: 29B – 055.38 với người đi bộ nằm tại khu vực vết máu thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường thuộc làn đường phía trong giành cho xe cơ giới của phần đường theo hướng từ thành phố Hà Nội đi tỉnh Nghệ An và nằm trong khoảng mở giữa hai phần đường.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn) đã trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định gen cho nạn nhân. Tại kết luận giám định số 1567/SH - PC54 ngày 31 tháng 07 năm 2017, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Đã xác định được kiểu gen và lưu kiểu gen của người phụ nữ chưa rõ tung tích tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, tài liệu, giấy tờ sau: 01 xe ôtô BKS: 29B - 055.38, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032832 của Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hà Nội cấp; 01 giấy chứng nhận K định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 3348580 có hiệu lực đến hết ngày 12/10/2017; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 giấy bán xe ô tô BKS 29B - 055.38 (bản viết tay); 01 hợp đồng ủy quyền và 01 giấy phép lái xe ô tô hạng D do sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp cho Đoàn Văn K ngày 03/10/2013, có giá trị sử dụng đến 03/10/2018.

Sau khi khám nghiệm phương tiện, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô và giấy tờ xe cho chủ phương tiện theo quy định pháp luật.

Riêng giấy phép lái xe hạng D mang tên Đoàn Văn K được đưa vào hồ sơ vụ án lưu giữ, chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Đoàn Văn K đã chi trả tiền mai táng phí và chi phí hợp lý khác số tiền 15.650.000 đồng cho anh Hoàng Ngọc Th ở tổ dân phố X, phường H, thị xã N, là người hợp đồng làm thủ tục mai táng cho nạn nhân.

Bản cáo trạng số 95/CT-VKSNS ngày 25/8/2023 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đoàn Văn K về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999.

* Tại phiên tòa Viện K sát đề nghị:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 202; điểm b, s khoản 1 Điều 46 và Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đoàn Văn K đã chi trả tiền mai táng phí và chi phí hợp lý khác số tiền 15.650.000 đồng cho anh Hoàng Ngọc Th ở tổ dân phố X, phường H, thị xã N, là người hợp đồng làm thủ tục mai táng cho nạn nhân. Anh Th đã nhận đủ số tiền nói trên và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Do hiện nay chưa xác định được danh tính của người bị hại, nên giành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác cho đại diện hợp pháp của người bị hại đói với bị cáo khi có đủ điều kiện và có yêu cầu.

- Về xử lý vật chứng: Đã được giải quyết xong nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn và Điều tra viên; Viện K sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và K sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà hôm nay. Vì vậy có đủ căn cứ để khẳng định VKSND thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo K về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng.

Xét tính chất vụ án: Đoàn Văn K điều khiển xe ô tô chở khách, loại 16 chỗ ngồi, biển K soát 29B - 055.38 tham gia giao thông, do không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ giảm tốc độ xe ô tô để có thể dừng lại một cách an toàn nên xe ô tô do K điều khiển đã đâm vào một người phụ nữ (chưa rõ danh tính, địa chỉ) đang đi bộ sang đường, gây tai nạn giao thông. Hậu quả, người này bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn), đến ngày 25/6/2017 thì tử vong do vỡ xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, tụ máu lan tỏa màng mềm, phù não vi phạm quy định tại Điều 12 Luật giao thông đường bộ và vi phạm các khoản 1, 3, 5, 6 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT, ngày 31/12/2015 (nay được thay thế bằng Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019) của Bộ Giao thông vận tải nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Hành vi nói trên của bị cáo không những gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trị an xã hội, làm gia tăng tai nạn giao thông. Do đó để ngăn chặn, giảm bớt các tai nạn về giao thông đường bộ thì việc đưa bị cáo ra xét xử buộc phải chịu hình phạt là cần thiết. Vì vậy cần phải có một đường lối xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã chủ động thanh toán số tiền 15.650.000 đồng cho anh Hoàng Ngọc Th là người hợp đồng làm thủ tục mai táng cho nạn nhân. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, với nhân thân của bị cáo như trên, hơn nữa bị cáo có lai lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định. Căn cứ vào pháp luật hình sự cần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng phù hợp với Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đoàn Văn K đã chi trả tiền mai táng phí và chi phí hợp lý khác số tiền 15.650.000 đồng cho anh Hoàng Ngọc Th ở tổ dân phố X, phường H, thị xã N, là người hợp đồng làm thủ tục mai táng cho nạn nhân.

Do hiện nay chưa xác định được danh tính của người bị hại (Cơ quan CSĐT đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm danh tính của người bị hại, đến nay vẫn không có kết quả), nên giành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác cho đại diện hợp pháp của người bị hại đối với bị cáo khi có đủ điều kiện và có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT công an thị xã Nghi Sơn đã trả lạicho Đoàn Văn K :

- 01 xe ôtô BKS: 29B - 055.38,

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032832 của Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hà Nội cấp;

- 01 giấy chứng nhận K định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 3348580 có hiệu lực đến hết ngày 12/10/2017;

- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 giấy bán xe ô tô BKS 29B - 055.38 (bản viết tay);

- 01 hợp đồng ủy quyền và 01 giấy phép lái xe ô tô hạng D do sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp cho Đoàn Văn K ngày 03/10/2013, có giá trị sử dụng đến 03/10/2018.

Bị cáo Đoàn Văn K đã nhận đủ các loại tài sản, giấy tờ nói trên và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng khoản 5 Điều 260 BLHS làm hình phạt phụ đối với bị cáo nên trả lại 01 giấy phép lái xe cho bị cáo sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 202; điểm b, s khoản 1 Điều 46 và Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Đoàn Văn K .

- Tuyên bố: Đoàn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

- Xử phạt: Đoàn Văn K 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo K cho Ủy ban nhân dân xã Trung Châu, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đoàn Văn K đã chi trả tiền mai táng phí và chi phí hợp lý khác số tiền 15.650.000 đồng cho anh Hoàng Ngọc Th ở tổ dân phố X, phường H, thị xã N, là người hợp đồng làm thủ tục mai táng cho nạn nhân.

Do hiện nay chưa xác định được danh tính của người bị hại, nên giành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác cho đại diện hợp pháp của người bị hại đối với bị cáo khi có đủ điều kiện và có yêu cầu.

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đoàn Văn K phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ