- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hữu C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/HS-ST Ngày: 21-6-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Đức.
2. Bà Bùi Phương Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2023/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2023/QĐXXST-HS ngày 9 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Hữu C, sinh ngày 12/01/1987, tại tỉnh Thái Bình;
Nơi ĐKHKTT: đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Phạm Hữu T và bà Phạm Thị L; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị X, 02 con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (không có số) ngày 16/9/2007 của Công an thành phố Thái Bình xử phạt 200.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/4/2023 đến ngày 15/4/2023 sau đó chuyển tạm giam đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến:
1. Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1985, trú tại đường L, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
2. Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973, trú tại đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình
3. Ông Trần Ngọc Đ, sinh năm 1945, trú tại đường T, tổ x, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Những người chứng kiến đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 12/4/2023, Phạm Hữu C đi bộ từ nhà ra khu vực cầu Sam thuộc địa phận xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình gặp và mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 túi ma túy với giá 10.000.000 đồng. Sau đó C cất ma túy vào túi quần bên phải của C đang mặc rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày C đi bộ về đến khu vực đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Dương Ngọc H và anh Nguyễn Tiến V, C đã tự giác giao nộp 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của C vừa mua với mục đích bán để kiếm lời. Tổ công tác đã niêm phong ma túy của C, sau đó đưa C, vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình lập biên bản bắt người quả tang và làm các việc khác theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Hữu C tại T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình thu giữ tại mặt bàn tầng 2 của nhà C đang ở 30 mảnh giấy tráng kim màu trắng kích thước (05 x 05) cm và 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu Crom màu trắng đã cũ. C khai nhận những đồ vật thu giữ tại nhà C, C sử dụng với mục đích chia nhỏ ma tuý ra để bán kiếm lời.
Bản kết luận giám định số 528/KL-KTHS(MT) ngày 13/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Phạm Hữu C trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 4,7513 gam (Bốn phẩy bảy nghìn năm trăm mười ba gam). Heroine STT: 09 Danh mục IA phụ lục Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là anh Dương Ngọc H, anh Nguyễn Tiến V, ông Trần Ngọc Đ đều thể hiện như lời khai của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 97/CT - VKSTPTB ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Hữu C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2023. Đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định; 30 mảnh giấy tráng kim màu trắng kích thước (05x 05) cm và 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu Crom màu trắng đã cũ. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an thành phố Thái Bình lập ngày 12/4/2023, tại trụ sở Công an phườ ng Tr ần Lãm, thành phố Thái Bình , tỉnh Thái Bình; Biên bản khám xét do Công an thành phố Thái Bình lập hồi 14 giờ 45 phút ngày 12/4/2023 tại nơi ở của Phạm Hữu C tại T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 528/KL-KTHS(MT) ngày 13/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 13 giờ 10 phút ngày 12/4/2023, tại khu vực T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Phạ m Hữ uC có hành vi tà ng trữ trái phép 01 túi ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 4,7513 gam mục đích để bán kiếm lời.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định:“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”… Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo đã biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng không chịu rèn luyện bản thân vì hám lời nên vẫn thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy đinh tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng có nhân thân xấu đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Xét thấy bị cáo bán ma túy với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với số ma túy đã thu của bị cáo là vật cấm lưu hành, 30 mảnh giấy tráng kim màu trắng kích thước (05x 05) cm và 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu Crom màu trắng đã cũ không còn giá trị sử dụng cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc số ma túy: bị cáo khai mua của của một người nam giới tại khu vực cầu S thuộc địa phận xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không có đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1 Xử phạt bị cáo Phạm Hữu C 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2023.
2.2 Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Phạm H ữu C 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 4,6074 gam mẫu gửi giám định còn lại và toàn bộ bao gói quản lý của Phạm Hữu C trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 528/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 30 mảnh giấy tráng kim màu trắng kích thước (05x 05) cm và 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu Crom màu trắng đã cũ.
(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 30/5/2023).
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Hữu C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2023.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
- CQCSĐT Công an thành phố Thái Bình;
Nguyễn Thị Hƣơng
- Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
- Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hƣơng Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
- CQCSĐT Công an thành phố Thái Bình;
Nguyễn Thị Hƣơng
- Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
- Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hƣơng
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - CQCSĐT Công an thành phố Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hƣơng |