- Tranh chấp gì? án hình sự — "K Th Đ cùng đồng phạm phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Kha Thị Đ 01 (Một) năm Cải tạo không giam giữ về tội: “Đánh bạc”, Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Nghệ An nhận được …
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/HS-ST Ngày 23-8-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Lê
Bà Đặng Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Kha Thị Đ, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1986, tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Kha Văn D (Đã chết) và con bà Lê Thị H; chồng: Chu Văn T, con: 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2023 đến ngày 26/5/2023 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa
2. Họ và tên: Ngân Thị D1, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1982, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Na Ca, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Cán bộ; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngân Văn L và con bà Lô Thị S (Đều đã chết); chồng: Kha Văn K, con: 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 7.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2023 đến ngày 26/5/2023 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa
3. Họ và tên: Vi Thị C, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 24 tháng 12 năm 1990, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vy V và con bà Lô Thị H1; chồng: Chưa có, con: 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2023 đến ngày 26/5/2023 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa
4. Họ và tên: Kha Thị Ơ, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1985, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Cán bộ; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Kha Văn M và con bà Lô Thị T1 (Đều đã chết); chồng: Vang Văn Đ1, con: 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2023 đến ngày 26/5/2023 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Vi Thị C, Ngân Thị D1: Ông Lê Văn L1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Kha Thị Đ, Kha Thị Ơ: Bà Hoàng Thị Thu H2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Chu Văn T, sinh năm 1985. Trú tại: Bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa
+ Bà Ngân Thị T2, sinh năm 1968. Trú tại: Bản X, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Chị Lương Thị Lệ T3. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 20/5/2023, Kha Thị Đ dùng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5 có gắn số thẻ sim 0347315376 gọi điện đến điện thoại di động Oppo Reno 7 Z 5G có gắn số thẻ sim 0917.429.778 của Kha Thị Ơ để trao đổi về việc đánh bạc. Sau đó, Ơ nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Vi Thị C để nói ra đón Đ nhưng C nói hôm nay trong nhà có bạn nên không chơi ở đó được. Ơ gọi lại cho Đ nói đi vào nhà Ngân Thị D1 thì Đ không đồng ý và không muốn đánh bạc tại nhà D1 mà rủ Ơ đi lên quán ăn Đ2 ở đồi P thuộc bản B, xã N, huyện T để ăn uống và đánh bạc. Ơ đồng ý rồi liên lạc lại vào điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 có gắn số thẻ sim 0985990783 của Ngân Thị D1 và C nói đi lên đồi Pu Pon thì D1 và C đều đồng ý. Sau đó, Ơ đi taxi từ nhà đến quán ăn Đ2, thuộc đồi P, bản Bay, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Trên đường đi, Ơ có ghé quán T5 02 bộ bài cầm lên để đánh bạc. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Ơ đến quán ăn Đ2 thì gặp D1 và Đ đã có mặt tại quán. Ơ đi vào trong quán rồi cùng D1 và Đ đánh bạc bằng hình thức đánh “Chương”, thắng thua bằng tiền. Đánh bạc đến khoảng 10 giờ 30 phút thì Chiều đến rồi tham gia đánh bạc cùng với Đ, Ơ, D1.
Các bị can Kha Thị Đ, Ngân Thị D1, Kha Thị Ơ và Vi Thị C thống nhất hình thức đánh bạc như sau: lấy một bộ bài T4 lơ khơ bỏ hết các quân 10, J, Q, K ra, còn lại 36 quân từ quân A đến 9 dùng để đánh bạc, một người chia bài (được gọi là người cầm chương) chia cho mỗi người 03 quân bài, sau đó những người chơi cầm 03 quân bài lên tính điểm, quân A được tính là 1 điểm, các quân bài từ 2 đến 9 thì tính điểm tương ứng từ 2 đến 9 điểm, rồi cộng tổng điểm của 3 quân bài; nếu tổng điểm của 03 quân bài nhỏ hơn hoặc bằng 10 thì lấy nguyên số điểm của bài, nếu tổng điểm của 03 quân bài lớn hơn 10 thì lấy điểm của bài là phần đơn vị, nếu tổng điểm của 03 quân bài là 20 thì sẽ tính là 10 điểm. Sau khi tính điểm thì những người chơi so điểm với người cầm chương để tính thắng, thua; ai cao điểm hơn người cầm chương là thắng, nếu bằng điểm với người cầm chương thì bài của người thắng là bài có quân theo thứ tự ưu tiên về chất rô, cơ, tép, bích (trong đó xem quân A là to nhất). Sau mỗi ván bài ai được 10 điểm sẽ được cầm chương. Nếu ba quân bài có số thứ tự cùng chất liên tiếp như 7-8-9 rô thì gọi là “phi li”. Nếu ba quân bài cùng số như 8-8-8 thì gọi là “sáp”; “sáp” Át lớn nhất rồi đến sáp 9,8,7,6,5,4,3,2. Đặt cược bắt đầu ván bài mỗi người sẽ bỏ ra số tiền đặt cược từ 100.000đ đến 300.000đ, ngoài ra mỗi người bỏ ra thêm 100.000đ để “gà”, sau khi được chia bài người nào có điểm cao nhất sẽ thắng toàn bộ tiền “gà”. Người chơi sẽ so sánh bài của mình với người cầm chương, nếu cao hơn thì được người cầm chương trả số tiền đã đặt cược, nếu được 10 điểm thì được nhân đôi số tiền đặt cược, nếu được “phi li” thì được nhân ba số tiền đặt cược, nếu được “sáp” thì được nhân bốn số tiền đặt cược. Ngược lại nếu ít điểm hơn người cầm chương thì sẽ mất số tiền đã đặt cược, nếu người cầm chương được 10 điểm thì những người chơi phải trả gấp đôi số tiền ban đầu đã đặt cược, nếu người cầm chương được “phi li” thì những người chơi phải trả gấp ba số tiền ban đầu đã đặt cược, nếu người cầm chương được “sáp” thì những người chơi phải trả gấp bốn số tiền ban đầu đã đặt cược.
Quá trình đánh bài thì Đ, Ơ, D1, Chiều quy định với nhau là ở 17 ván bài đầu tiên, người nào thắng tiền “gà” thì sẽ phải trích ra 100.000đ trong số tiền thắng để trả tiền ăn uống cho chủ quán và trả tiền mua bài, mua nước và hoa quả cho Ơ. Trong đó, ở hai ván bài đầu tiên Ơ đã lấy 200.000đ là tiền mua bài, mua nước và hoa quả. Ở 15 ván bài tiếp theo thì tổng thu lại 1.500.000đ đưa cho D1 cất để trả tiền ăn uống cho chủ quán. Ở các ván bài sau đó thì không thu tiền nữa.
Đến 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi Kha Thị Đ, Kha Thị Ơ, Ngân Thị D1, Vi Thị C đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Quá trình bắt, Tổ công tác phát hiện, thu giữ tổng số tiền 39.250.000 đồng đồng là tiền các đối tượng dùng đánh bạc, cụ thể: Thu giữ của Vi Thị C tổng số tiền là 13.610.000 đồng, thu giữ của Ngân Thị D1 tổng số tiền là 2.750.000 đồng; thu giữ của Kha Thị Ơ số tiền 9.200.000 đồng; thu giữ của Kha Thị Đ tổng số tiền là 13.690.000 đồng. Đồng thời, tổ công tác còn thu giữ của Vi Thị C: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, vỏ màu tím, số sê-ri: LXMR4LKGYL, gắn sim số thuê bao 0868986422; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng, số sê-ri: C39VK3WTJCM0, gắn sim số thuê bao 0344481567; Thu giữ Ngân Thị Duyên 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, vỏ màu xanh, gắn sim số thuê bao 0917429778; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đồng, gắn sim số thuê bao 0985990783 và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn xanh đen bạc, mang biển kiểm soát 37D1-181.75; Thu giữ của Kha Thị Đ ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 5, vỏ màu bạc, gắn sim số thuê bao 0347315376 và 0366852064; 01 chiếc xe máy, mang biển kiểm soát 37C1-223.10; Thu giữ của Kha Thị Ơ: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 7 Z 5G, vỏ màu bạc, gắn sim số thuê bao 0987125797 và 0946791868. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng theo đúng quy định.
Quá trình điều tra, xác định được tổng số tiền mà các bị can sử dụng đánh bạc là 39.250.000 đồng (Ba mươi chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), cụ thể của từng người như sau:
Kha Thị Đ mang theo số tiền 18.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt giữ đang thua số tiền 4.310.000 đồng.
Kha Thị Ơ mang theo số tiền 8.850.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Ơn trả nợ cho Chiều 5.000.000 đồng và sử dụng số tiền 3.850.000 đồng còn lại để đánh bạc, khi bị bắt giữ đang thắng số tiền 5.350.000 đồng.
Ngân Thị D1 mang theo số tiền 4.800.000đ để đánh bạc, khi bị bắt giữ đang thua số tiền 2.050.000 đồng.
Vi Thị C mang theo số tiền 7.600.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Chiều thua số tiền 1.600.000 đồng và lấy của Ơ 5.000.000 đồng tiền nợ để tiếp tục đánh bạc, khi bị bắt giữ đang thắng số tiền 1.010.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số: 239/KL-KTHS(Đ3-TL), ngày 09/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Số tiền 39.250.000 đồng (có bảng kê chi tiết mệnh giá, mã số hiệu kèm theo) gồm: 59 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng; 38 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng; 19 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng; 04 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng; 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng gửi giám định là tiền thật..
Bản cáo trạng số 90/CT-VKS-TD ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố các bị cáo Kha Thị Đ, Ngân Thị D1, Vi Thị C, Kha Thị Ơ theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Kha Thị Đ, Vi Thị C.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Ngân Thị D1.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Kha Thị Ơ.
- Xử phạt Kha Thị Đ mức án từ 12 tháng đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”;
- Xử phạt Ngân Thị D1 mức án từ 10 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Hình phạt bổ sung: Từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ.
- Xử phạt Vi Thị C mức án từ 8 tháng đến 10 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt Kha Thị Ơ 20.000.000đ đến 25.000.000đ về tội “Đánh bạc”.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo; Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Kha Thị Đ, Ngân Thị D1, Vi Thị C; Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Ngân Thị D1, Vi Thị C: không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng hình ở mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với các bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công na huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng.
Về tố tụng:
Tại phiên tòa Người bào chữa cho bị cáo Kha Thị Đ, Kha Thị Ơ vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên bị cáo Kha Thị Đ, Kha Thị Ơ đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa nên căn cứ vào Điều 291 Bộ luật tố tụng hình xử, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có ý kiến trình bày đầy đủ nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Kha Thị Đ, Ngân Thị D1, Vi Thị C, Kha Thị Ơ đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Vào 09 giờ 40 phút, ngày 20/5/2023, tại quán ăn của chị Lương Thị Lệ T3 ở bản B, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Các bị cáo Kha Thị Đ, Ngân Thị D1, Kha Thị Ơ và Vi Thị C đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh ba cây (Đánh chương) được thua bằng tiền với tổng số tiền 39.250.000đ. Đến 14 giờ 45 phút, cùng ngày thì bị tổ công tác công an huyện T phát hiện và bắt quả tang. Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đã cấu thành tội: Đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Chính vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố các bị cáo Kha Thị Đ, Ngân Thị D1, Vi Thị C, Kha Thị Ơ theo tội danh và Điều luật, viện dẫn ở trên là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới an toàn công cộng, trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Xét thấy các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân mà các bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã gây nên dư luận xấu trong nhân dân ở khu vực, việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai, xử lý nghiêm là cần thiết nhằm góp phần tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn nên cần phân hóa vai trò phạm tội của từng bị cáo:
Bị cáo Kha Thị Đ là người khởi xướng và cùng đánh bạc với các bị cáo khác, bản thân bị cáo Đ sử dụng số tiền 18.000.000 đồng để tham gia đánh bạc nên lên mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác là thỏa đáng. Các bị cáo Ngân Thị D1 sử dụng số tiền 4.800.000đ để đánh bạc, Vi Thị C sử dụng số tiền 12.600.000 đồng để đánh bạc, bị cáo Kha Thị Ơ sử dụng số tiền 3.850.000đ để đánh bạc, các bị cáo Ngân Thị D1, Vi Thị C, Kha Thị Ơ là những người tham gia đánh bạc tích cực nên cần lên mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo D1 có nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Kha Thị Đ, Vi Thị C, sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải với hành vi của mình gây ra, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo Đ có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, bị cáo C có ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Ba nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Kha Thị Đ, Vi Thị C và lượng hình ở mức như lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Bị cáo Ngân Thị D1 sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải với hành vi của mình gây ra, bị cáo Ngân Thị D1 trong quá trình công tác được UBND huyện T, Liên đoàn Lao động huyện T đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự và lượng hình ở mức như lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo Kha Thị Ơ sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải với hành vi của mình gây ra, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình công tác được UBND xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An tặng giấy khen, đồng thời có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhì, ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, được Bộ tặng Kỷ niệm chương vì chủ quyền an ninh biên giới đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền được quy định Điều 35 Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno5, màu trắng thu giữ của thu giữ của Kha Thị Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng thu giữ của Vi Thị C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đồng thu giữ của Ngân Thị D1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7 Z 5G, vỏ màu bạc thu giữ của thu giữ của Kha Thị Ơ là những phương tiện, công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần bán đầu gia sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 02 thẻ Sim có số thuê bao 0347315376 và 0366852064 gắn trong điện di động nhãn hiệu Oppo Reno5, màu trắng thu giữ của thu giữ của Kha Thị Đ; 01 thẻ Sim có số thuê bao 0344481567 gắn trong điện thoại di động Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng thu giữ của Vi Thị C; thẻ sim 0985990783 gắn trong điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đồng thu giữ của Ngân Thị D1; 02 thẻ sim 0987125797 và 0946791868 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7 Z 5G, vỏ màu bạc thu giữ của thu giữ của Kha Thị Ơ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 39.250.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần sung ngân sách nhà nước.
- 01 (một) chiếc chăn bằng vải, màu xanh, có in họa tiết nhiều bông hoa, kích thước (170x200)cm là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ (mỗi bộ bài gồm 36 quân bài, (đã qua sử dụng) mà các bị cáo sử dụng đánh bạc là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, vỏ màu tím, gắn sim số thuê bao 0868986422 thu giữ của Vi Thị C (máy đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, vỏ màu xanh, gắn sim số thuê bao 0917429778 thu giữ của Ngân Thị D1 (máy đã qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định hai chiếc điện thoại di động trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại những tài sản trên cho Ngân Thị D1 và Vi Thị C theo đúng quy định của pháp luật.
- Đối với hai chiếc xe máy gồm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, mang biển kiểm soát 37D1-181.75 thu giữ của Ngân Thị D1 (xe đã qua sử dụng); 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, mang biển kiểm soát 37C1-223.10 thu giữ của Kha Thị Đ (xe đã qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định hai chiếc xe máy trên không liên quan đến vụ án. Nên ngày 31/7/2023, Viện KSND huyện T ra quyết định xử lý tài sản trả lại hai chiếc xe trên cho Ngân Thị D1 và Kha Thị Đ theo đúng quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo Ngân Thị D1 như lời đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật.
Kết quả xác minh tài sản của bị cáo Kha Thị Đ, Vi Thị C, Kha Thị Ơ chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Các bị cáo Kha Thị Đ, Vi Thị C không có nghề nghiệp ổn định nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
Bị cáo Ngân Thị D1 có nghề nghiệp ổn định nhưng hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang nuôi con nhỏ nên chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Đối với chị Lương Thị Lệ T3 là chủ quán ăn nơi các bị cáo đánh bạc. Quá trình điều tra xác định được việc các bị cáo đánh bạc chị T3 không biết nên không có căn cứ để xử lý chị T3.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Kha Thị Đ, Ngân Thị D1, Vi Thị C, Kha Thị Ơ là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Các bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Kha Thị Đ 01 (Một) năm Cải tạo không giam giữ về tội: “Đánh bạc”, Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án. Thời gian Cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 20/5/2023 đến ngày 26/5/2023, cứ 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Kha Thị Đ cho chính quyền UBND xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành Cải tạo không giam giữ. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Ngân Thị Duyên 11 (Mười một) tháng Cải tạo không giam giữ về tội: “Đánh bạc”, Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án. Thời gian Cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 20/5/2023 đến ngày 26/5/2023, cứ 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Ngân Thị D1 cho chính quyền UBND xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành Cải tạo không giam giữ. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: 10.000.000đ (Mười triệu đồng)
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Vi Thị Chiều 09 (Chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội: “Đánh bạc”, Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án. Thời gian Cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 20/5/2023 đến ngày 26/5/2023, cứ 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Vi Thị C cho chính quyền UBND xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành Cải tạo không giam giữ. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp các bị cáo Kha Thị Đ, Ngân Thị D1, Vi Thị C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị Kha Thị Đ, Ngân Thị D1, Vi Thị C.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt: Kha Thị Ơ 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng)
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ (mỗi bộ bài gồm 36 quân bài, (đã qua sử dụng); 02 thẻ Sim có số thuê bao 0347315376 và 0366852064 gắn trong điện di động nhãn hiệu Oppo Reno5, màu trắng thu giữ của thu giữ của Kha Thị Đ; 01 thẻ Sim có số thuê bao 0344481567 gắn trong điện thoại di động Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng thu giữ của Vi Thị C; thẻ sim 0985990783 gắn trong điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đồng thu giữ của Ngân Thị D1; 02 thẻ sim 0987125797 và 0946791868 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7 Z 5G, vỏ màu bạc thu giữ của thu giữ của Kha Thị Ơ; 01 (một) chiếc chăn bằng vải, màu xanh, có in họa tiết nhiều bông hoa, kích thước (170x200)cm.
+ Bán đấu giá sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno5, màu trắng thu giữ của thu giữ của Kha Thị Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng thu giữ của Vi Thị C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đồng thu giữ của Ngân Thị D1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7 Z 5G, vỏ màu bạc thu giữ của thu giữ của Kha Thị Ơ.
(Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận ngày 01.8.2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
+ Sung ngân sách nhà nước số tiền 39.250.000đ (Ba mươi chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) hiện đang được bảo quản tại Kho bạc nhà nước huyện T, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận số 01/2023/BBBG-CQCSĐT ngày 11 tháng 7 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Kho bạc Nhà nước huyện T, tỉnh Nghệ An
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Ngân Thị D1, Kha Thị Ơ, Vi Thị C, Kha Thị Đ
[4] Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23/8/2023. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKS H. Tương Dương; - Công an Tương Dương; - Các bị cáo; Người bào chữa; - Người CQLVNVLQ; - UBND xã Bình Chuẩn; Con Cuông; - UBND xã Châu Khê; Con Cuông; - UBND xã Nga My, Yên Hòa - Sở Tư Pháp Nghệ An; - Chi cục THADS Tương Dương; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Ái |