vanban.org

Bản án 93/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Vũ Xuân C 01 năm 10 tháng tù (một năm mười tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 28/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 93/2023/HS-ST
Ngày: 10-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Vân.

2. Ông Lò Văn Thôn.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 97/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-HS ngày 28/4/2023, đối với bị cáo:

Vũ Xuân C, tên gọi khác: Không, sinh năm 1965; nơi cư trú: Bản H, xã Y, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn V (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị G (đã chết); vợ: Vũ Thị T, có 04 người con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/7/2009 bị TAND huyện Sông Mã xử phạt 24 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1965 (vợ bị cáo). Trú tại: Bản H, xã Y, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 00 phút ngày 28/02/2023, Tổ công tác Công an xã Y làm nhiệm v phòng chống, kiểm soát ma tuý tại bản H, xã Y, Sông Mã phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe mô tô từ hướng bản N, xã C đến có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý. Tổ công tác dừng xe kiểm tra, người đàn ông khai là Vũ Xuân C sinh năm 1965 bản H, xã Y, Sông Mã, quá trình kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay trái của C 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chứa chất bột liên kết màu trắng (C khai nhận là Heroine). Tổ công tác lập biên bản và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ 01 xe mô tô hiệu HONDA loại xe Wave RSX màu sơn trắng đỏ đen BKS 36B1 – 996.24.

Ngày 01/3/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã tiến hành m niêm phong cân tịnh xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy, kết quả: Chất bột liên kết màu trắng có khối lượng 0,19 gam, trích 0,05 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu C. Vật chứng còn lại 0,14 gam ký hiệu L.

Kết luận giám định số 498 ngày 02/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

- Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ cung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Ch phủ quy định các danh m c chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ cung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Ch phủ quy định các danh m c chất ma tuý và tiền chất.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 28/02/2023, Vũ Xuân C điều khiển xe mô tô BKS 36B1 – 996.24 từ nhà bản H, xã Y, Sông Mã đến bản N, xã N, Sông Mã để tìm mua ma tuý về sử d ng. Khi đi C mang theo số tiền 50.000 đồng (là tiền lao động, tiết kiệm mà có), đến bản Nà Sèo, C gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi đang đi bộ trên đường, C đi đến gần hỏi người này có Heroine bán không, người này bảo có nên C bảo mua 50.000 đồng, đồng thời lấy tiền đưa cho người đàn ông dân tộc Mông, người đàn ông nhận tiền rồi đi vào phía trong bản, khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho C 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa Heroine, C nhận gói ma tuý rồi cầm lòng bàn tay trái điều khiển xe mô tô đi về. Khi về đến khu vực bản H, xã Y, Sông Mã thì bị tổ công tác Công an xã Y, Sông Mã kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 48/CT-VKSSM ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Vũ Xuân C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Bị cáo sử d ng ma tuý và không có tài sản nên được miễn hình phạt bổ sung là (phạt tiền); bị cáo vẫn phải chịu án phí theo quy định chung; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

- Với các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ v án có đủ căn cứ chứng minh: Vũ Xuân C là người sử d ng trái phép chất ma túy. Ngày 28/02/2023, Vũ Xuân C đã tìm mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết khu vực bản Nà Sèo, Nậm Ty, Sông Mã với giá 50.000 đồng m c đích mang về sử d ng thì bị tổ công tác Công an xã Y, Sông Mã kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ 0,19 gam ma tuý, theo kết luận giám định là chất ma tuý, thuộc loại Heroine, m c đích Tàng trữ để sử d ng cá nhân.

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người làm chứng; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới.

Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận: Bị cáo Vũ Xuân C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, sử d ng ma tuý lâu năm.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vấn đề khác liên quan trong v án:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực bản N, xã N, huyện Sông Mã. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu hiệu HONDA loại xe Wave RSX màu sơn trắng đỏ đen BKS 36B1 – 996.24 tạm giữ của bị cáo, qua tra cứu thông tin đăng ký xe mang tên Trương Công Đ, trú tại Làng M, xã P, Ngọc Lặc, Thanh Hoá. Qua xác minh, xác định chiếc xe mô tô là tài sản chung của gia đình (bị cáo mua lại). Khi bị cáo sử d ng xe đi mua ma túy vợ của bị cáo là Vũ Thị T không biết. Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ s dữ liệu xe máy vật chứng. Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà T có ý kiến xin lại chiếc xe mô tô, vì là tài sản chung và là phương tiện duy nhất. Do đó, cần xem xét trả lại.

Vật chứng của v án còn lại: 0,14 gam Heroine và các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sử d ng ma tuý và không có tài sản nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền).

Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn, nên phải chịu án phí theo quy định chung.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Vũ Xuân C 01 năm 10 tháng tù (một năm mười tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 28/02/2023.

Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ các đồ vật: 01 túi Nilon màu trắng chứa 0,14 gam Heroine; 01 mảnh Nilon màu hồng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m . Được đựng trong 01 (một) phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín.

- Trả lại cho bà Vũ Thị T: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE RSX, BKS: 36B1-996.24.

Toàn bộ vật chứng được mô tả, (theo Quyết định chuyển vật chứng số 45 ngày 20/4/2023 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/4/2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 10/5/2023.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ