- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng L phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/HS-PT Ngày 08-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành ph n Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Huân.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và bà Nguyễn Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V do có kháng cáo của hai bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Hồng L, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1963 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thư ng trú và chỗ ở: Thôn D, xã D, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn Ô (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 24/9/1997 bị Công an huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 200.000đ về hành vi gây thương tích. Ngày 19/4/1998 bị cáo đã nộp xong số tiền phạt trên.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2023 đến ngày 12/01/2023 được tại ngoại tại địa phương (có mặt).
2. Trần Xuân V, sinh ngày 09 tháng 12 năm 1982 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thư ng trú và chỗ ở: Thôn D, xã D, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần M K và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị H và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 02/4/2001 bị Công an huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 50.000đ về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự. Ngày 03/4/2001 bị cáo đã nộp phạt xong số tiền trên.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2023 đến ngày 12/01/2023 được tại ngoại tại địa phương (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Tuyển T1, Lê Anh H không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 gi 00 phút ngày 09/01/2023, Lê Hồng L, Trần Xuân V, và Nguyễn Văn M đến trang trại nhà bà Lê Thị C, sinh năm 1952 ở thôn D, xã D, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc để chơi và ngồi uống nước tại bàn xi măng kê cạnh khu nhà ở bên trong trang trại. Lúc này bà C đang bọc nilon vào các quả ổi tại vư n ổi trong trang trại của mình. Tại đây, L, V và M thấy trên mặt bàn đang ngồi uống nước có 01 bộ một bộ bài tú lơ khơ 52 quân nên cả 03 nảy sinh ý định đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi sâm, với mức cược là 10.000đ/1 lá bài, hình thức chới Sâm được các bị cáo thỏa thuận như sau:
Bộ bài tú lơ khơ có 52 quân được chia cho mỗi ngư i chơi 10 quân bài, số bài còn lại sẽ để ở dưới chiếu. Cách chơi bài sâm cụ thể như sau: Quân bài cao sẽ bắt được quân bài thấp, bộ cao hơn sẽ bắt được bộ thấp hơn và không tính đồng hoa hay đồng chất mà chỉ tính theo thứ tự quân bài. Trong đó quân 2 là quân bài cao nhất, tiếp đến là quân át (A) rồi theo thứ tự thấp dần từ quân K xuống tới quân 3. Các quân bài có thứ tự liên tiếp liền kề nhau từ 03 quân trở lên sẽ được tính là bộ dọc, có 02 quân trong bộ tứ thì được tính là bộ đôi, có 03 quân trong bộ tứ thì tính là bộ 3. Ai đánh hết các quân bài của mình trước thì ngư i đó thắng và được thu tiền của những ngư i chơi còn lại theo tỷ lệ: Cứ mỗi quân bài mà ngư i chơi còn lại trên tay (tức là các quân bài chưa đánh được) thì được thu 10.000đ. Ai không đánh được quân bài nào thì gọi là bị "cháy" hay còn gọi là bị "treo" và phải nộp cho ngư i thắng số tiền 150.000đ. Nếu ai hô sâm mà thắng tức là không có ai bắt được các quân bài hoặc bộ bài của ngư i hô sâm đánh trước khi ngư i đó hạ quân bài hoặc bộ bài cuối cùng còn lại trên tay xuống chiếu thì ngư i hô sâm sẽ được thu của mỗi ngư i chơi còn lại số tiền 200.000đ. Trư ng hợp có ngư i chơi nào bắt được một trong các quân bài hoặc bộ bài ngư i hô sâm đánh trước khi ngư i hô sâm hạ quân bài hoặc bộ bài cuối cùng xuống chiếu thì ngư i hô sâm phải trả cho ngư i bắt được sâm số tiền bằng với số tiền ngư i đó được hưởng nếu thắng sâm là 800.000đ (thư ng gọi là đền sâm). Ai có "tứ quý" tức là có đủ 4 quân trong bộ tứ thì có thể bắt được quân 2, ngư i đánh quân 2 bị bắt tứ quý sẽ phải trả cho ngư i bắt tứ quý đó số tiền 150.000đ. Khi L, V và M đánh bạc với nhau thì lần lượt có Nguyễn Tuyển Tân, sinh năm 1980 và Lê Anh H, sinh năm 1986 đều trú tại xã D, huyện VT đi đến và cùng tham gia đánh bạc cùng. Các đối tượng đánh bạc đến 16 gi 15 phút cùng ngày thì bị Công an huyện VT bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại mặt bàn đá nơi các đối tượng ngồi đánh bạc số tiền 11.700.000đ (Mư i một triệu bảy trăm nghìn đồng); 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân; tạm giữ của Nguyễn Tuyển T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T, màu trắng, bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0966.438.166; của Lê Hồng L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15s, màu đen, bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0978.335.169; của Trần Xuân V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77s, màu đen, bên trong có gắn 02 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0838.982.406, 0332.947.800; của Lê Anh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0966.570.102; của Nguyễn Văn M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Readmi 9A, màu xanh, bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0395.104.406.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận số tiền dùng vào việc đánh bạc cụ thể: Khi đánh bạc Nguyễn Tuyển T1 có 2.500.000đ; Lê Hồng L có 2.500.000đ; Trần Xuân V có 2.400.000đ; Lê Anh H có 2.300.000đ; Nguyễn Văn M có 2.000.000đ các bị cáo đều thừa nhận sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng khai nhận mang đi và sử dụng vào việc đánh bạc là: 11.700.000đ.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Lê Hồng L, Trần Xuân V phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Lê Hồng L 10 (Mư i) tháng tù th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi th i gian tạm giữ từ ngày 09/01/2023 đến ngày 12/01/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Trần Xuân V 10 (Mư i) tháng tù th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi th i gian tạm giữ từ ngày 09/01/2023 đến ngày 12/01/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Tuyển T1, Lê Anh H; hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện VT với nội dung xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V giữ nguyên nội dung kháng cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V, sửa bản án sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc; xử phạt Lê Hồng L và Trần Xuân V mỗi bị cáo 10 (Mư i) tháng tù cho hưởng án treo, th i gian thử thách 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng về tội Đánh bạc, th i hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm và giao các bị cáo cho UBND xã D, huyện VT giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách của án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V làm trong th i hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của ngư i tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. L i khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
Hồi 16 gi 15 phút ngày 09/01/2023, tại trang trại của bà Lê Thị C ở thôn D, xã D, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc. Công an huyện VT phối hợp cùng Công an xã D bắt quả tang Trần Xuân V, Nguyễn Tuyển Tân, Nguyễn Văn M, Lê Anh H và Lê Hồng L, đều trú tại thôn D, xã D, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi đánh sâm ăn tiền. Tang vật thu giữ gồm: Thu tại chiếu bạc số tiền 11.700.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 05 điện thoại di động các loại. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 11.700.000đ.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án này, bị cáo L và V thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm, các bị cáo là ngư i có nhân thân: Ngày 24/9/1997 Lê Hồng L bị Công an huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 200.000đ về hành vi gây thương tích; Ngày 02/4/2001 Trần Xuân V bị Công an huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 50.000đ về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự; tuy nhiên các Quyết định này đều đã được xóa đã lâu và không coi là tiền sự đồng th i các hành vi này không phải cùng loại hành vi phạm tội đánh bạc. Xét thấy, vụ án này có quy mô không lớn, tổng số tiền đánh bạc của tất cả các bị cáo là 11.700.000đ, số tiền của bị cáo L và V tham gia đánh bạc ít (Lê Hồng L có 2.500.000đ; Trần Xuân V có 2.400.000đ); các bị cáo đều được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là phạm tội lần đầu thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo V là ông Trần M Khai là ngư i trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ Quốc tế sau ngày 40/4/1975 được Nhà nước ghi nhận và trợ cấp nên được hưởng thêm tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L xuất trình tài liệu chứng cứ mới là đơn có xác nhận của UBND xã D nội dung bị cáo là trụ cột trong gia đình, hiện đang nuôi mẹ già 90 tuổi, bị cáo luôn tích cực tham gia ủng hộ các quỹ từ thiện do địa phương phát động; bị cáo V xuất trình tài liệu chứng cứ mới là đơn có xác nhận của UBND xã D nội dung bị cáo là trụ cột chính trong gia đình, bố bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo hiện điều trị tại bệnh viện, mẹ bị cáo sức khỏe yếu, hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Xét thấy, các bị cáo L, V được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà cho các bị cáo hưởng án treo và ấn định th i gian thử thách theo quy định của pháp luật, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách của án treo cũng đủ tác dụng giáo dục chung và phòng ngừa riêng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về án phí và các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận và các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên được Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V.
Tuyên bố bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V mỗi bị cáo 10 (Mư i) tháng tù cho hưởng án treo, th i gian thử thách 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng, th i hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao các bị cáo Lê Hồng L và Trần Xuân V cho UBND xã D, huyện VT giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách của án treo.
Trong th i gian thử thách, ngư i được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trư ng hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Lê Hồng L, Trần Xuân V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện VT; - Phòng HS - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện VT; - TAND huyện VT; - THADS huyện VT; - UBND xã D, huyện VT; - Bị cáo; - Lưu HS; Tòa hình sự. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Ngọc Huân |