- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng N xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 6 - 2023 V/v tranh chấp ly hôn và con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Cúc.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bạn
2. Ông Lê Văn Tập
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2023/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2023/QĐXXST –HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 91/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 2002
Địa chỉ: 127 đường P, phường TN, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ liên lạc: 110/11/45 đường H, phường TT, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1997;
Địa chỉ: 65 đường Y, phường TL, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Bà Ngân và ông Trương Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 02/12/2020 tại UBND phường TN, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không hòa hợp, ông T thường xuyên chửi đánh vợ con. Quá trình chung sống vợ chồng ông bà sinh sống tại địa chỉ 65 đường Y, phường TL thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nhưng do có nhiều mâu thuẫn nên bà N đã chuyển về địa chỉ 127 đường P, phường T, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk sinh sống. Nay bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà N và ông T có 01 con chung là cháu Trương Văn Nh, sinh ngày 19/12/2020. Bà N có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Trương Văn T: Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Trương Văn T. Về con chung: Giao cháu Trương Văn Nh, sinh ngày 19/12/2020 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Hồng N chăm sóc nuôi dưỡng tới 18 tuổi. Ông Trương Văn T có quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng, tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N yêu cầu ly hôn với ông Trương Văn T, địa chỉ cư trú tại phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn ông Trương Văn T đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Trương Văn T tự nguyện tìm hiểu, đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 02/12/2020 tại UBND phường TN, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Trương Văn T chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Do đó bà N đã nộp đơn đề nghị giải quyết xin ly hôn với ông T. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương, đại diện chính quyền địa phương cho biết:“Ông Trương Văn T có cư trú tại địa chỉ 65 đường Y, buôn P, phường TL, thành phố B. Về mâu thuẫn vợ chồng thì theo chính quyền địa phương không nắm được do ông bà không yêu cầu địa phương tiến hành hòa giải”.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc ông Trương Văn T không đến tham gia vào các buổi hòa giải và phiên xét xử của Tòa, đã thể hiện việc ông T không có ý định hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này, từ đó cho thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng N, cho bà N được ly hôn với ông Trương Văn T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Trương Văn T có 01 con chung là cháu Trương Văn Nh sinh ngày 19/12/2020. Hiện cháu còn nhỏ đang ở với mẹ nên bà N có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng cháu tới tuổi trưởng thành. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện về ly hôn cũng như về việc nuôi con chung. Nên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng N về việc được nuôi các cháu là phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao con chung là cháu Trương Văn Nh sinh ngày 19/12/2020 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Hồng N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.
Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị Hồng N tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bị đơn ông Trương Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Trương Văn T.
2. Về con chung:
Giao cháu Trương Văn Nh - sinh ngày 19/12/2020 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Hồng N chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành.
Ông Trương Văn T được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.
3. Về cấp dưỡng: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà Nguyễn Thị Hồng N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2022/0001353 ngày 27/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP. Buôn Ma Thuột; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - CCTHADS TP. Buôn Ma Thuột; - UBND P. TN, TP. Buôn Ma Thuột. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Cúc |