- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 93/2023/HNGĐ-ST Ngày 09 - 6 - 2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Minh Quốc.
2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2023/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị H, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Khóm Đ, thị trấn N, huyện S, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Anh Đ, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Khóm Đ, thị trấn N, huyện S, tỉnh An Giang.
(Chị H có mặt; anh Đ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 30-12-2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị H trình bày:
Chị và anh Đ tự tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện S, tỉnh An Giang. Thời gian đầu, chị và anh Đ chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 10/2022 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh Đ thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà đánh chị và đập phá đồ đạc trong nhà, mâu thuẫn giữa chị và anh Đ ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ đầu năm 2023 chị và anh Đ đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung tên P, sinh ngày 23-7-2016. Hiện con đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn anh Đ: Tòa án nhân dân huyện S đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập anh Đ tham gia phiên họp hai lần hợp lệ, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.
Tại phiên tòa, chị H có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; anh Đ vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:
- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H ly hôn với anh Đ, giao con chung tên P, sinh ngày 23-7-2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; buộc chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn là anh Đ có địa chỉ tại huyện S, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh Đ là hôn nhân hợp pháp, anh chị chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện S, tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27-7-2016. Trong quá trình chung sống, anh Đ thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà đánh chị và đập phá đồ đạc trong nhà, mâu thuẫn giữa chị và anh Đ ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ đầu năm 2023 chị và anh Đ đã sống ly thân cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân giữa chị H, anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên P, sinh ngày 23-7-2016. Xét thấy, từ đầu năm 2023 đến nay cháu P sống chung với chị H, được chị chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo; để ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu P nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Cấp dưỡng cho con: Chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng cho con chung, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Chị H trình bày, chị và anh Đ không có nợ chung.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2014/UBTVQH 14 của Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh An Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều: 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh Đ.
2. Về nuôi con chung: Chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên P, sinh ngày 23-7-2016. Hiện chị H đang nuôi con chung.
Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011505 ngày 06-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh An Giang, xem như đã nộp xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện S; - Chi cục THADS huyện S; - UBND thị trấn N; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dƣơng Thị Bé Thi |