- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng yêu cầu bà C trả tiền vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/DSST. Ngày: 07- 4 -2023. V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Hồng Phương.
2. Bà Võ Thị Mai.
-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Gia Hưng, thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 7 tháng 4 năm 2023, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 450/2022/TLST-DS, ngày 15/11/2022, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐST-DS ngày 22/02/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-DS ngày 16/3/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: đường N, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo ủy quyền là ông Trần Đức Th, sinh năm 1984; địa chỉ: đường N, phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm:1978; địa chỉ: đường N, Phường B, quận G, Tp.HCM; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18/10/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S ông Th trình bày: Ngày 8/11/2016 Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) có ký với bà Nguyễn Thị Ngọc C hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 150.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 480.990.799 đồng và thanh toán cho Ngân hàng số tiền 452.252.371 đồng. Đến ngày 01/7/2021 bà C vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 20/8/2022 bà C còn nợ ngân hàng số tiền gốc là 163.972.303 đồng, lãi quá hạn là 81.855.072 đồng. Tổng cộng là 245.827.375 đồng. Nay, Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà C trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền trên một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt theo đúng quy định của pháp luật triệu tập bà Nguyễn Thị Ngọc C đến Tòa để làm việc, dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà C vẫn vắng mặt nên không ghi được ý kiến của bà.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bà C phải trả số tiền là 274.161.823 đồng (trong đó tiền gốc còn lại là 163.972.303 đồng, lãi quá hạn là 110.189.520 đồng tạm tính đến ngày 11/01/2023. Trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp bà C chậm nghĩa vụ thanh toán thì kể từ ngày xét xử, bà C phải trả số tiền lãi phát sinh theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tương ứng với số nợ gốc cho đến khi trả hết số tiền trên. Phía bị đơn, bà C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung, nhận thấy việc chậm trả tiền của bị đơn ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền, thủ tục giải quyết: Bà Nguyễn Thị Ngọc C có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S. Do đó có cơ sở xác định giữa bà C và Ngân hàng có giao kết hợp đồng dân sự như quy định tại Điều 463 Bộ Luật dân sự năm 2015 nên quan hệ tranh chấp được xác định là “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bà C cư ngụ tại quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã thực hiện việc tống đạt đúng theo quy định của pháp luật, triệu tập các bên đến tham gia phiên tòa nhưng phía bị đơn vẫn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn.
Về yêu cầu của Ngân hàng TMCP S buộc bà Nguyễn Thị Ngọc C trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 163.972.303 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định rằng bà C có ký với Ngân hàng TMCP S giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng TMCP S và được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 150.000.000 đồng. Ngày 01/7/2021 bà C vi phạm nghĩa vụ không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng, vi phạm Điều 2 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng mà bà C đã thỏa thuận cùng Ngân hàng nên Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn và yêu cầu bà C thanh toán số tiền gốc cho Ngân hàng là có cơ sở.
Về tiền lãi: Do bà C vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm Điều 23 bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng nên bà C phải thanh toán tiền lãi quá hạn theo bảng chiết tính của Ngân hàng số tiền 110.189.520 đồng tạm tính đến ngày 11/01/2023 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ nhưng bà C không đến tòa để tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử. Do đó căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn, xét việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vi phạm Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên cần phải buộc bà C có trách nhiệm trả số tiền trên cho Ngân hàng một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu của của Ngân hàng S được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 274.161.823 đồng x 5% = 13.708.091 đồng, nguyên đơn không phải chịu tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90,91,92 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S
Bà Nguyễn Thị Ngọc C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 163.972.303 đồng, tiền lãi quá hạn là 110.189.520 đồng. Tổng cộng là 274.161.823 (Hai trăm bảy mươi bốn triệu một trăm sáu mươi mốt ngàn tám trăm hai mươi ba) đồng .Trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 12/01/2023 bà C còn phải trả tiền lãi phát sinh theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết tương ứng với số nợ gốc cho đến khi trả hết số tiền nêu trên.
2. Về án phí dân sự: Án phí dân sự sơ thẩm là 13.708.091 (Mười ba triệu bảy trăm lẻ tám ngàn không trăm chín mươi mốt) đồng bà C chịu. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.145.684 (Sáu triệu một trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi bốn) đồng theo biên lai thu số AA/2022/0012062 ngày 15/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TANDTPHCM. -VKSNDQGV; -CCTHAQGV; - Các đương sự; - Lưu. Hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân Hội | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ( đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Bảo Thu Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |