vanban.org

Bản án 93/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 05/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu P đối với ông Đặng Nhật Q.

Buộc ông Đặng Nhật Q trả cho ông Nguyễn Hữu P số tiền 149.707.000 đồng (Một trăm bốn mươi chín triệu, bảy trăm lẻ bảy nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Hữu P "Tranh chấp hợp đồng vay" Đặng Nhật Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu P đối với ông Đặng Nhật Q.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/DS-ST
Ngày 05-9-2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trịnh Thị Lệ Hoa.

2. Bà Trần Thị Hằng Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh L tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 149/2023/TLST- DS ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1986.

Địa chỉ: số 175 Quốc lộ Z, Phường B, thành phố T, tỉnh L.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thế S, sinh năm 2003.

Địa chỉ: B13/14 ấp 1, xã H, huyện B, Thành phố H.

(Theo giấy ủy quyền ngày 04/3/2023), có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Ông Đặng Nhật Q, sinh năm 1993.

Địa chỉ cũ: số 46/3/7 Thủ Khoa H, Phường A, thành phố T, tỉnh L.

(Nay đổi thành: số 9/15 Nguyễn Văn B, Phường A, thành phố T, tỉnh L), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 3 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P do ông Nguyễn Thế S đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vào tháng 5 năm 2021, ông Đặng Nhật Q có nhờ ông P mượn tiền giúp để làm ăn tại Sài Gòn nơi ông đang làm việc. Ông Q hứa sau khi hết dịch Covid 19 sẽ trả hết cho ông P. Vì mối quan hệ bạn bè, ông P đã đứng ra mượn giúp ông Q, đến tháng 01 năm 2022 sau khi đối chiếu giữa hai bên, ông Đặng Nhật Q đã mượn của ông P tổng số tiền là 129.929.000 (bằng chữ: một trăm hai mươi chín triệu chín trăm hai mươi chín nghìn đồng). Ông Đặng Nhật Q có ký “Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ” cho ông P vào ngày 28/02/2022 và sẽ dùng mọi tài sản cá nhân để thanh toán khoản nợ cho ông P. Tuy nhiên, cho đến nay dù đã nhiều lần hứa hẹn nhưng ông Q vẫn không thanh toán số tiền nợ cho ông P. Nay ông P khởi kiên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Q có nghĩa vụ trả cho ông số tiền nợ gốc là 129.929.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày ông Q vi phạm nghĩa vụ trả nợ 28/02/2022 cho đến ngày xét xử 05/9/2023.

Bị đơn ông Đặng Nhật Q vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy báo phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Ông Đặng Nhật Q đã được mẹ ruột nhận trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án và cam đoan giao lại nhưng ông Q không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận chứng cứ, phiên hòa giải do Tòa án tổ chức, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông P, không tham gia các phiên tòa.

Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Hội đồng xét xử đều tuân theo quy định pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo qui định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P về việc yêu cầu ông Đặng Nhật Q trả số tiền nợ vay gốc là 129.929.000 đồng.

Chấp nhận yêu cầu tính lãi của ông Nguyễn Hữu P đối với số tiền nợ gốc 129.929.000 đồng tính từ ngày 28/02/2023 đến ngày xét xử 05/9/2023 theo mức lãi suất 10%/năm với số tiền lãi là 19.778.000 đồng.

Về án phí: Ông Đặng Nhật Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: ông Nguyễn Hữu P do ông Nguyễn Thế S đại diện theo ủy quyền nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L về tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Đặng Nhật Q, địa chỉ số 46/3/7 Thủ Khoa H, Phường A, thành phố T, tỉnh L. Căn cứ điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L.

Ông Đặng Nhật Q đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết, tống đạt thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập ông Q đến các phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Q không chấp hành nên Tòa án xét xử vắng mặt đối ông Q là đúng theo quy định tại Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P do ông Nguyễn Thế S đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Ông Nguyễn Hữu P yêu cầu ông Đặng Nhật Q trả số tiền nợ vay là 129.929.000 đồng, căn cứ xác lập giao dịch là “Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ” ngày 29 tháng 01 năm 2022. Theo đó, ông Q hẹn sẽ trả đủ số nợ cho ông P chậm nhất là ngày 28/02/2023, tuy nhiên đã quá thời hạn trên nhưng ông Q vẫn chưa trả nợ cho ông P, cho thấy ông Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo qui định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Theo xác minh của công an phường A, thành phố T, tỉnh L thì hiện “ông Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số 9/15 Nguyễn Văn Bé, Phường 1, thành phố T, tỉnh L (số cũ 46/3/7 Thủ Khoa H, Phường 1, thành phố T, tỉnh L). Hiện tại đương sự đang sinh sống tại địa phương”. ông Q đã được mẹ ruột trực tiếp ký nhận và cam đoan giao lại cho ông Q các văn bản tố tụng của Tòa án. Cho thấy, ông Q đã biết được việc ông P khởi kiện yêu cầu ông Q trả số tiền nợ vay tại Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L nhưng ông Q vẫn cố tình vắng mặt và cũng không gửi trình bày ý kiến đến Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của ông P. Như vậy, ông Q không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông P. Tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (về nghĩa vụ chứng minh) quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do đó, căn cứ vào biên nhận mượn tiền có chữ ký của ông Q, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, cần buộc ông Q trả cho ông P số tiền 129.929.000 đồng.

Về tính lãi: ông P yêu cầu tính lãi đối với số tiền 129.929.000 đồng kể từ ngày 28/02/2023 đến ngày xét xử 05/9/2023 theo mức lãi suất 10%/năm. Xét thấy, ông Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 28/02/2022. Theo “Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ” ngày 29 tháng 01 năm 2022 thì hai bên không thỏa thuận lãi suất khi vay. Do ông Q không trả nợ đúng hạn nên ông P có yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày ông Q vi phạm nghĩa vụ trả nợ tương ứng với số tiền chậm trả là phù hợp theo qui định tại khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi ông Q phải trả cho ông P là 129.929.000 đồng x 10%/năm x 18 tháng 08 ngày = 19.778.000 đồng.

Về phương thức trả nợ: ông P yêu cầu ông Q trả số tiền nợ gốc là 129.929.000 đồng và số tiền lãi là 19.778.000 đồng. Tổng cộng là 149.707.000 đồng, yêu cầu trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. ông Q không có ý kiến về phương thức trả nợ nên cần buộc ông Q có nghĩa vụ trả cho ông P số tiền 149.707.000 đồng một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: ông Đặng Nhật Q phải chịu 7.485.350 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Hữu P không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu P đối với ông Đặng Nhật Q.

Buộc ông Đặng Nhật Q trả cho ông Nguyễn Hữu P số tiền 149.707.000 đồng (Một trăm bốn mươi chín triệu, bảy trăm lẻ bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng thời gian chưa thi hành án.

Về án phí: Ông Đặng Nhật Q phải chịu 7.485.350 đồng (Bảy triệu, bốn trăm tám mươi lăm nghìn, ba trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Hữu P không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ tạm ứng án phí số tiền 3.895.250 đồng (Ba triệu, tám trăm chín mươi lăm nghìn, hai trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu số 0002318 ngày 25/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh L.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ