- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Trần Đại N."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Trần Đại N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/DS-ST Ngày 06 - 9 - 2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xoa và ông Nguyễn Văn Sanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 06.9.2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 118/2023/TLST-DS ngày 18.4.2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST-DS ngày 22.7.2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 82/2023/QĐST-DS ngày 10.8.2023, giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Trụ sở: Đường N, phường V, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn N -Sinh năm 1983. Chức vụ: chuyên viên quản lý nợ - Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Đà Nẵng. Địa chỉ: Đường B, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (Quyết định ủy quyền số: 3270/2022/QĐ-PL ngày 26.12.2022 và Giấy ủy quyền số: 129/2023/UQ-CNĐN ngày 30.3.2023), có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Đại N - Sinh năm 1965. Địa chỉ: đường A, tổ B (nay là tổ C), phường T, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30.3.2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngày 21.02.2017, ông Trần Đại N có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Trần Đại N, Ngân hàng đã đồng ý cấp hai thẻ tín dụng có hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ đến thời điểm ngày 22.5.2017, Ngân hàng đã chấp thuận nâng hạn mức tín dụng cho ông Trần Đại N đến 100.000.000 đồng. Lãi suất là 2.5%/tháng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Trần Đại N đã thực hiện giao dịch như sau:
- Đối với thẻ tín dụng quốc tế Motor Card số: 356481 - 9585: Ông Trần Đại N đã thực hiện 18 giao dịch với tổng số tiền 759.466.719 đồng; đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 757.679.000 đồng (bao gồm phí, lãi và gốc). Từ ngày 31.3.2021 đến 06.9.2023, ông Trần Đại N đã thanh toán thêm cho Ngân hàng số tiền 13.000.000 đồng.
- Đối với thẻ tín dụng quốc tế Car Card số: 455376 - 1736: Ông Trần Đại N đã thực hiện 16 giao dịch với tổng số tiền 619.191.025 đồng; đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 619.906.000 đồng (bao gồm phí, lãi và gốc). Từ ngày 26.02.2021 đến 06.9.2023, ông Trần Đại N đã thanh toán thêm cho Ngân hàng số tiền 9.162.000 đồng.
Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Trần Đại N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Trần Đại N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 06.9.2023, ông Trần Đại N còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 154.601.173 đồng (Trong đó nợ thẻ Motor Card số: 356481 - 9585 là 58.595.269 đồng và nợ thẻ Car Card số: 455376 - 1736 là 96.005.904 đồng). Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Đại N phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ như đã nêu trên và phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 07.9.2023 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Hợp đồng.
Ông Trần Đại N đã được Tòa án thực hiện thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhưng ông Trần Đại N không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S và cũng không đến Tòa án để giải quyết vụ việc.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Trần Đại N đã được triệu tập để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Các đương sự đã được đảm bảo các quyền và thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Trần Đại N thanh toán nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Ông Trần Đại N có nơi cư trú được xác định theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là ông Trần Đại N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Về việc xác lập hợp đồng: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng) mà ông Trần Đại N ký với Ngân hàng TMCP S ngày 21.02.2017 thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định tại các Điều 117, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và phù hợp với quy định của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 nên có hiệu lực pháp luật đối với các bên tham gia ký kết.
Về yêu cầu thanh toán: Mặc dù ông Trần Đại N vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng TMCP S cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà ông Trần Đại N ký với Ngân hàng có mục đích tiêu dùng với hạn mức 50.000.000 đồng. Căn cứ vào thu nhập của ông Trần Đại N, Ngân hàng đã nâng hạn mức tín dụng cho ông Trần Đại N đến 100.000.000 đồng. Lãi suất là 2,5%/tháng; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; thời hạn thanh toán, số tiền thanh toán được thực hiện theo Thông báo hàng tháng của Ngân hàng. Loại thẻ sử dụng là thẻ tín dụng quốc tế Motor Card số: 356481 - 9585 và thẻ tín dụng quốc tế Car Card số: 455376 - 1736.
- Đối với thẻ tín dụng quốc tế Motor Card số: 356481 - 9585: Ông Trần Đại N đã thực hiện 18 giao dịch với tổng số tiền 759.466.719 đồng; đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 757.679.000 đồng (bao gồm phí trễ hạn 3.326.263 đồng, phí vượt hạn mức 300.000 đồng, phí 1.227.000 đồng, lãi 29.594.120 đồng, gốc 723.231.617 đồng). Do ông Trần Đại N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, kể từ ngày 01.4.2021 là đúng với quy định tại Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng. Sau khi chuyển nợ quá hạn thì ông Trần Đại N đã thanh toán thêm cho Ngân hàng được số tiền 13.000.000 đồng. Tính đến ngày 06.9.2023, ông Trần Đại N còn nợ Ngân hàng số tiền là 58.595.269 đồng (tiền gốc 23.235.102 đồng, tiền phí 396.011 đồng, lãi trong hạn 2.909.792, lãi quá hạn 32.054.364 đồng).
- Đối với thẻ tín dụng quốc tế Car Card số: 455376 - 1736: Ông Trần Đại N đã thực hiện 16 giao dịch với tổng số tiền 619.191.025 đồng; đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 619.906.000 đồng (bao gồm phí trễ hạn 4.263.516 đồng, phí 4.497.000 đồng, lãi 41.937.796 đồng, gốc 569.207.688 đồng). Do ông Trần Đại N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ này và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, kể từ ngày 26.02.2021 là đúng với quy định tại Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng. Sau khi chuyển nợ quá hạn, ông Trần Đại N đã thanh toán thêm cho Ngân hàng được số tiền 9.162.000 đồng. Tính đến ngày 06.9.2023, ông Trần Đại N còn nợ Ngân hàng số tiền 96.005.904 đồng (tiền gốc 40.821.337 đồng, phí trễ hạn 386.180 đồng, tiền lãi trong hạn 3.778.011 đồng, lãi quá hạn 51.020.376 đồng).
Căn cứ vào thỏa thuận của các bên tại Điều 18 và 19 của Điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ tín dụng thì ông Trần Đại N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Trần Đại N phải thanh toán nợ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015 cần được chấp nhận. Do đó, buộc ông Trần Đại N phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 06.9.2023 của thẻ tín dụng quốc tế Motor Card 356481 - 9585 là 58.595.269 đồng và thẻ tín dụng quốc tế Car Card 455376 - 1736 là 96.005.904 đồng. Ông Trần Đại N phải tiếp tục trả tiền lãi, kể từ ngày 07.9.2023 cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký kết ngày 21.02.2017.
Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP S được chấp nhận nên ông Trần Đại N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về việc giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227, 228, 266, 269 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ vào Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Trần Đại N.
Xử:
1. Buộc ông Trần Đại N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 06.9.2023 tổng cộng là 154.601.173 đồng, cụ thể như sau:
- Số tiền phải thanh toán của Thẻ tín dụng quốc tế Motor Card số: 356481 - 9585 là 58.595.269 đồng (tiền gốc 23.235.102 đồng, phí 396.011 đồng, lãi trong hạn 2.909.792 đồng, lãi quá hạn 32.054.364 đồng).
- Số tiền phải thanh toán của Thẻ tín dụng quốc tế Car Card số: 455376 - 1736 là 96.005.904 đồng (tiền gốc 40.821.337 đồng, phí trễ hạn 386.180 đồng, lãi trong hạn 3.778.011 đồng, lãi quá hạn 51.020.376 đồng).
Kể từ ngày 07.9.2023, ông Trần Đại N còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký kết ngày 21.02.2017 cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Đại N phải chịu là 7.730.059 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 3.508.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: 0007367 ngày 17.4.2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Văn Diện |